Xuất bản thông tin

Xuất bản thông tin

Mỏ kim cương Argyle, Australia

 

Bắt đầu hoạt động từ năm 1983, Argyle trở thành nơi sản xuất kim cương đứng vào hàng đầu thế giới. Mỏ Argyle nằm ở vùng đông bắc của Tây Australia, là một trong những nơi sản xuất kim cương lớn nhất thế giới.

 

Hình 1: Mỏ Argyle nhìn từ trên không, thấy được một phần của pipe AK1

 

Năm 1983, mỏ kim cương Argyle bắt đầu đi vào hoạt động và trở thành một trong những mỏ có sản lượng kim cương lớn nhất thế giới. Sản lượng năm 2000 là 26.5 triệu carat (khoảng 25% sản lượng kim cương thể giới), sản lượng cao nhất là vào năm 1994 với 42.8 triệu tấn (khoảng 40% sản lượng kim cương trên thế giới trong năm đó).

 

Hình 2: Sản lượng kim cương của mỏ Argyle từ tích tụ nguyên sinh (AK1 pipe) và tích tụ thứ sinh, từ năm 1982 - 2000

 

Mỏ Argyle không chỉ được biết đến là nơi có số lượng rất lớn kim cương nâu tới vàng và gần không màu tới không màu mà còn là nơi chứa một số lượng nhỏ kim cương hồng chất lượng cao.

 

Hình 3: Những viên kim cương màu nâu này còn được gọi là “champagne” và “cognac” kim cương. Trọng lượng thay đổi từ 0.48 đến 0.56 ct.

 

 

Hình 4: Mỏ Argyle trở nên nổi tiếng từ việc khai thác được những viên kim cương hồng đều đặn hàng năm mặc dù số lượng rất ít. Những viên kim cương hồng này có màu thay đổi từ Fancy pink (hai viên đầu) tới Fancy Deep pink (ba viên tiếp theo) tới Fancy Intense purple-pink (hai viên cuối).

 

Pipe AK1 là tích tụ kim cương đầu tiên được tìm thấy trong lamproite, nằm ở thượng nguồn sông Smoke Creek trong một thung lũng nhỏ ở phía nam dãy Matsu. Những tích tụ sa khoáng kim cương tập trung dọc theo sông Smoke Creek và Limestone Creek, vật liệu trầm tích là do sự phong hóa của pipe K1.

 

Đặc Điểm Kim Cương Argyle

 

Kim cương được khai thác từ mỏ Argyle gồm 5% có chất lượng ngọc, 25% chất lượng công nghiệp, và phần còn lại có chất lượng gần ngọc (near-gem). Hầu hết những sản phẩm này có kích thước nhỏ, màu từ nâu đến không màu. Hơn 90% kim cương được mài ở Ấn Độ, do kích thước nhỏ nên tốn rất nhiều công sức để mài được 1 viên kim cương.

 

Hình 5: Tính chất ngọc học của kim cương Argyle

 

Đặc điểm kim cương thô: trọng lượng trung bình của kim cương thô Argyle nhỏ hơn 0.10 ct. Tinh thể kim cương lớn nhất được phát hiện chó đến ngày nay (phát hiện vào cuối 1991) nặng 42.6 ct. Nó vẫn được giữ ở trạng thái thô và đặt trong phòng trưng bày của mỏ.

 

Hơn 60% tinh thể kim cương Argyle có hình dạng bất kì. Tinh thể có song tinh khoảng 25%, trong đó 10% có đa hợp tinh. Còn lại 5% là tinh thể có dạng 12 mặt hoặc bát diện. Khoảng 72% là kim cương nâu, còn lại là màu vàng tới gần không màu và không màu. Kim cương màu hồng, xanh dương phớt xám và lục nhỏ hơn 1%.

 

 

Hình 6: Các màu của kim cương thô được khai thác tại mỏ Argyle. Phần lớn kim cương thô có dạng bất kì chỉ một số ít có dạng tinh thể bát diện hoặc tinh thể có những mặt phẳng. Trong lượng của những tinh thể này thay đổi từ 0.5 đến 1 ct, lớn hơn trọng lượng trung bình của mỏ (0.1 ct)

 

Hầu hết kim cương Argyle đều có dấu hiệu của sự biến dạng dẻo (cấu trúc tinh thể) do được hình thành bên trong manti của trái đất hoặc do quá trình đi lên bề mặt. Hiện tượng này được thể hiện thông qua “sức căng” mạnh của chúng khi quan sát dưới hai nicol vuông góc. Biến dạng dẻo có thể là nguyên nhân tạo ra màu nâu và màu hồng trong kim cương.

 

Bao thể được tìm thấy trong hầu hết kim cương Argyle. Graphite là loại bao thể phổ biến nhất và thường có dạng chấm đen. Garnet, olivine và những khoáng vật sulfide cũng được tìm thấy.

 

Hình 7: Đây là ba viên kim cương hồng nổi tiếng được khai thác từ Argyle. Viên phía trên được bán năm 1998, nặng 1.45 ct, màu Fancy Intense pink. Viên phía dưới, bên trái được bán năm 1999, nặng 0.59 ct, màu Fancy purlish red. Viên phía dưới, bên phải được bán năm 2000, nặng 0.50 ct, màu Fancy Deep purlish pink.

 

 

Gem & Gemology, Vol. 37, No. 1, pp. 26-41.

Lược dịch: Trần Minh Tân