Asset Publisher

Asset Publisher

NHỮNG HIỂU BIẾT CƠ BẢN VỀ CẨM THẠCH - JADE

Phát hiện đầu tiên về Jade liên quan đến hai nền văn minh cổ Mesoamerica và Trung Quốc

I. LỊCH SỬ PHÁT HIỆN JADE.

 

Phát hiện đầu tiên về Jade liên quan đến hai nền văn minh cổ Mesoamerica và Trung Quốc.

 

Mesoamerica: là vùng đất văn minh cổ, kéo dài từ phía Bắc Mexico đến Trung Mỹ được biết như là Olmec, Aztec, Maya… Thuở sơ khai thổ dân vùng Mesoamerica dùng loại đá này để khắc hình những vị thần tế lễ, nghiền nhuyễn để uống chữa bệnh đau bụng, chính vì thế vào đầu thế kỷ 16 trước công nguyên khi người Tây Ban Nha phát hiện Trung Mỹ họ đã đặt tên loại đá này là piedra de ijada có nghĩa là đá bảo vệ vùng thắt lưng và sau này được chuyển thể ngôn ngữ hàn lâm Pháp – Anh là Jade.

 

 

Trung Quốc: Jade được phát hiện cách đây hơn 12000 năm, dùng để khắc hình những vị thần tượng trưng cho sức khỏe, trái đất (nước, lửa, gió, đất)…Vào thời nhà Chu (1122 – 221 trước Công Nguyên), kỹ thuật chế tác tinh xảo đã đưa Jade vào đời sống sinh hoạt của giai cấp thống trị. Jade dùng làm trâm cài, lược, hộp đựng trang sức, bộ tách trà, gậy, tô điểm cho vỏ kiếm… Dòng trang sức Jade được phương tây sáng tạo nên nhiều kiểu đa dạng hơn như nhẫn, hoa tai, vòng… du nhập vào Trung Quốc sau chiến tranh thế giới thứ nhất qua đường giao thương hàng hải. Kể từ đó Jade được phổ biến rộng rãi phục vụ cho cả giới bình dân.

 

 

 

 

Nephrite.

  Jadeite.
  Jade-like (Bowenite or Serpentine).

 

II. PHÂN LOẠI JADE.

 

Đặc điểm chung của Jade là một loại đa tinh thể dạng khối đặc, những tinh thể có đặc điểm là đan chéo nhau hay bện vào nhau trong không gian nên có độ rắn chắc cao, khó bể hơn những khoáng khác.

 

Khởi thủy Jadeite và Nephrite được xem như nhau và gọi chung là Jade (cẩm thạch). Năm 1863 nhà Khoáng vật học người Pháp Alexis Damour sau khi phân tích Jade ở hai vùng Miến Điện và Trung Quốc đã phát hiện hầu hết Jade ở Miến Điện thuộc loại silicate của Na và Al (nhóm pyroxene); hầu hết Jade ở Trung Quốc thuộc loại silicate của Ca và Mg (nhóm amphibole). Kể từ đó Jade được phân làm hai loại: Jadeite và Nephrite.

 

Jadeite mới là đại diện chính thống cho cẩm thạch, màu sậm hơn, đắt hơn, thuộc nhóm pyroxene.

 

Nephrite là loại có màu nhạt hơn, kém giá trị hơn, thuộc nhóm amphibole.

 

III. Tẩy và tẩm polymer hoặc nhựa (B, B C Jade).

 

Ban đầu dùng chất tẩm là nhựa (resin), sau dùng chất tẩm là polymer. Do polymer có đặc điểm dễ chế tạo, cứng, rẻ, ít hút ẩm, có màu gần giống màu trắng Jade và rất khó phát hiện bằng mắt thường. Chính vì thế phương pháp tẩy và tẩm polymer được dùng phổ biến từ năm 1980 cho đến nay. Nếu thêm màu vào polymer để tẩm gọi là B C Jade.

 

IV. CÁC MỎ JADE TRÊN THẾ GIỚI.

 

 

IV.1. Jade ở Miến Điện (Burma)

 

 

Jade ở Miến Điện được biết đến vào cuối thế kỷ 17 khi chiến tranh giữa Trung Quốc và Miến Điện kết thúc, Jade được du nhập vào Trung Quốc qua đường giao thương và rất được giới thống trị Trung Quốc ưa chuộng do đẹp hơn Jade ở trong nước (Jade ở Trung Quốc thực chất là Nephrite, Jade ở Miến Điện là Jadeite).

 

Hầu hết Jadeite đẹp, có giá trị đều có nguồn gốc ở Miến Điện và đặc biệt là loại Imperial Jadeite (Jadeite loại 1) chỉ có ở Miến Điện.

 

IV.2. Jade ở vùng Mesoamerica.

 

Tìm thấy ở vùng Aztec, Maya, Guatemale …

 

 

IV.3. Caribbean và bờ biển phía Bắc của Nam Mỹ.

 

 

Trong nền văn minh Taino (năm 700 – 1000 sau Công nguyên) thổ dân vùng này dùng Jade để làm mề đay, khắc tượng… Ngày nay Jade được khai thác ở Jamaica, Cuba, Columbia…

 

IX.4. Russia và Kazakhstan.

 

 

 

Được khai thác từ đầu năm 1970 cho đến nay.

 

 

Mẫu thô

 

Người tổng hợp: Đoàn Thị Anh Vũ