Asset Publisher

Đá quý, bán quý

Đá quý-bán quý với sự đa dạng về chủng loại, sự phong phú về màu sắc cũng như mức độ phổ biến rất khác nhau đã đem đến cho chúng ta sự sự tò mò, cuốn hút hấp dẫn lạ thường. Con người đã biết sử dụng đá quý để làm đẹp từ ngàn năm qua và cho đến nay thì nó càng trở nên phổ biến đồng thời mang tầm nghệ thuật.


Xét về mặt vật chất đá quý là những khoáng vật (đơn khoáng, đa khoáng) hội đủ những điều kiện dùng để cắt mài, chế tác làm trang sức, nữ trang hay vật trang trí…Ngoài các khoáng vật được dùng làm đá quý thì một số thành tạo hữu cơ cũng được sử dụng làm đá quý như: ngọc trai, hổ phách, nanh, xương, sừng các loài động vật.
 

Các yếu tố chính để đánh giá giá trị của một viên đá quý bao gồm:

Asset Publisher

Thị Hiếu

Thị Hiếu Thị hiếu của khách hàng là yếu tố chi phối lớn đến giá trị của đá quý, đặc biệt khi thị hiếu kết hợp với tính hiếm của đá quý. Chúng ta thường hiểu thị hiếu là sự lựa chọn, sở thích của cá nhân hoặc một nhóm người nào đó, vì vậy có thể gọi thị hiếu là sở thích. Trong lĩnh vực đá quý, thị hiếu góp phần quyết định giá trị của viên đá, ví dụ: Tsavorite Garnet thì hiếm hơn emrerald, nhưng từ xưa đến nay do nhu cầu của khách hàng về emerald vẫn lớn hơn nhiều nên làm cho giá trị của nó cao hơn. Trong nhóm corundom thì ruby (màu đỏ) chất lượng tốt thường hiếm hơn sapphire màu xanh (blue), tính hiếm kết hợp với nhu cầu về đá màu đỏ đã làm cho ruby thường có giá trị cao hơn sapphire. Còn trong sapphire thì loại sapphire xanh (blue) thường phổ biến hơn các loại sapphire có màu khác, nhưng do thị hiếu của khách hàng về sapphire xanh nhiều hơn làm cho giá trị của nó thường cao hơn các loại khác.   Viên Ruby Graff của Miến Điện nặng 8.26ct đỉnh trên nhẫn của Bulgari được bán với giá kỷ lục 3.64 triệu USD – vào khoảng 422.000 cho mỗi carat tại phiên bán đấu giá vào tháng 2 – 2006 của Christie. (Hình: Denis Hayoun/Diode SA).   Mỗi người, mỗi dân tộc, mỗi khu vực địa lý - lịch sử - văn hoá, mỗi thời kỳ lịch sử có thể có thị hiếu không giống nhau về các loại đá quý nhất định. Trong thế giới đá quý, cẩm thạch (ngọc Jade) được xếp vào hàng cao cấp. Đặc biệt đối với người tiêu dùng khu vực Á Đông, thì cẩm thạch được yêu thích không chỉ là vật trang sức vì màu sắc, đẳng cấp, nghệ thuật mà nó còn hướng về nhu cầu tâm linh của con người. Ngày nay, những chiếc vòng, chuỗi, nhẫn,.. bằng cẩm thạch màu xanh là niềm đam mê của nhiều phụ nữ đứng tuổi. Còn những bức phù điêu, tượng phật, tượng các con vật độc đáo như rồng, cóc, tỳ hươu v.v… thường là đối tượng mà các nhà sưu tầm và những người có nhu cầu về phong thủy quan tâm, kích thước càng lớn càng quý. Với những người sành chơi thì việc lựa chọn cẩm thạch không phải chỉ vì những tính chất khoa học của cẩm thạch mà còn vì đẳng cấp của nó. Như vậy, bên cạnh các tiêu chí khoa học thì quan trọng hơn vẫn là độ đam mê của khách hàng đối với họ cẩm thạch. Nhưng trong khi đó ở Châu Âu và Châu Mỹ, người tiêu dùng lại ít quan tâm đến loại ngọc này. Ở những xứ phương Bắc ít ánh nắng mặt trời người ta thường ưa loại ruby màu đỏ nhạt, và hồng hơn là ruby đỏ đậm như các nước ở Trung Cận Đông nhiều nắng. Thị hiếu thường xuất phát từ nhu cầu thực tế, khi quy luật giữa cung và cầu chênh lệch thì kéo theo giá trị của viên đá thay đổi.       Con Công và những bông sen được điêu khắc từ Jadiete của Miến Điện (chiều cao 12cm, không tính đế gỗ) được trưng bày tại hội nghị chuyên đề ở Sinkankas vào năm 2007. (Hình của Wimon Manorotkul).   Đối với truyền thống văn hóa của người Việt Nam, thị hiếu thường hướng tới cái thanh cao, trang nhã, gắn liền với thiên nhiên, do đó trong đá quý thị hiếu thường hướng tới những loại đá có màu sắc dịu dàng, nhẹ nhàng, hài hòa, có nguồn gốc thiên nhiên không qua xử lý.   LÂM HƯƠNG

Tính Hiếm

Tính Hiếm Giá trị của đá quý còn thể hiện qua sự hiếm của nó. Loại đá nào càng đẹp càng hiếm thì càng được nhiều người săn lùng. Tính hiếm của đá quý có tính thời điểm, nó đi cùng với việc phát hiện ra các mỏ mới. Hiếm cũng là một trong những tiêu chuẩn tạo nên giá trị cho đá quý, tuy nhiên tiêu chuẩn này không rõ ràng, nó phụ thuộc vào yếu tố chủ quan của con người. Một khi viên đá đó được xác định là hiếm thì người ta phải hiểu được bản chất của viên đá đó để đánh giá giá trị của nó. Ví dụ như than và kim cương là hai loại khác nhau có cùng thành phần hoá học là cacbon. Tuy nhiên sẽ không chính xác nếu nói rằng than là hiếm bởi vì nó có thành phần hoá học giống một viên kim cương. Hay ruby và sapphire là hai loại đá quý có màu khác nhau thuộc nhóm corundum, ngày nay corundum được khai thác khá phổ biến, nhưng để tìm được những viên đá corundum có chất lượng tốt để chế tác thành sản phẩm mài giác có giá trị thì hiếm, thường chỉ chiếm chưa tới 1% lượng corundum được tìm thấy, nên đối với những viên hoàn hảo thì cực kỳ hiếm vì thế giá trị của nó rất cao, và khó tìm thấy trên thị trường.   Alan Caplan Ruby (15,97ct) (www.thenaturalsapphirecompany.com) Sapphire màu cam phớt hồng “padparadscha” không xử lý của Sri Lanka nặng 88.11 ct. (Hình: R. Weldon.s)   Đối với đá quý, tính hiếm là một thang đo nhưng nó không mang tính chất quyết định, nó còn phụ thuộc vào các yếu tố khác. Một số loại đá này hiếm hơn những loại đá khác, nhưng nếu chỉ hiếm thì chưa đủ giúp cho một viên đá đó có giá trị. Bên cạnh đó, một số loại đá quý thì phổ biến ở dạng kích thước nhỏ, nhưng hiếm gặp những viên có kích thước lớn, ví dụ: Ruby, sapphire, emerald, alexandrite, garnet stavorite, spinel. Do đó đối với những đá loại này, để có được một viên kích thước lớn bạn phải trả một giá tiền cao hơn nhiều cho mỗi carat so với những viên có kích thước nhỏ. Tsavorite Garnet cắt kiểu oval, 0.42ct, 5x4mm, được rao bán giá với giá 21.87USD (thaigemstore.com) Tsavorite Garnet cắt kiểu giọt nước, 1.22ct, 6.9x5.4x4.5mm, được rao bán với giá 272.70 USD (thaigemstore.com)   Tsavorite Garnet cắt kiểu oval, 0.42ct, 5x4mm, được rao bán giá với giá 21.87USD (thaigemstore.com)   Tsavorite Garnet cắt kiểu giọt nước, 1.22ct, 6.9x5.4x4.5mm, được rao bán với giá 272.70 USD (thaigemstore.com)   Một số loại đá quý có đặc điểm đặc biệt, hiếm gặp thì nó thường có giá trị cao hơn những loại thông thường.   Viên cabochon Sapphire hai sao đặc biệt (10.75x7.00x4.20 mm) được chế tác từ hai tinh thể mọc xen với nhau    Những viên cabochon Beryl mắt mèo (cat’s-eye beryl) xuất hiện ở Shahpura của Ẩn Độ có dải óng ảnh sắc nét được định hướng vuông góc với trục c (hình: Robert Weldon)   LÂM HƯƠNG

Độ Cứng

Độ Cứng Sức kháng cự của đá quý với sự gạch xước hoặc sự mài mòn là độ cứng của nó, kí hiệu là H. Sức kháng cự phụ thuộc vào cường độ của lực liên kết giữa các nguyên tử với nhau. Để đơn giản hóa thì lực liên kết mạnh tương ứng với viên đá cứng. Do đó, độ cứng là một tính chất quan trọng, một trong những thuộc tính quan trọng của đá quý, bởi vì độ bền phụ thuộc vào nó rất nhiều. Một số cách đo định lượng độ cứng được tạo ra, nhưng phương pháp scratch hardness (vết trầy xước) được sử dụng trong một thời gian dài bởi các nhà khoáng vật học và cũng đáp ứng tốt cho các nhà ngọc học. Theo phương phát này thì cạnh bén của một khoáng vật đã biết độ cứng mà làm trầy xước bề mặt phẳng của một khoáng vật khác thì nó cứng hơn. Vào năm 1824, nhà khoáng vật học Mohs (Australia) đã chọn 10 khoáng vật tương đối phổ biến và sắp xếp chúng theo thứ tự độ cứng tăng dần từ 1 tới 10 như sau:   Thang độ cứng Mohs   1. Talc 2. Gypsum 3. Calcite 4. Fluorite 5. Apatite 6. Feldspar   7. Quartz   8. Topaz   9. Corundum   10. Diamond     Mỗi khoáng vật có thể rạch trầy khoáng vật có số thứ tự thấp hơn trên thang độ cứng nhưng không thể rạch trầy khoáng vật có số thứ tự lớn hơn. Ví dụ: kim cương rạch trầy dễ dàng corundum, corundum rạch trầy topaz và topaz rạch trầy thạch anh. Hai khoáng vật có độ cứng giống nhau có thể rạch trầy nhau.   Ngoài những khoáng vật nằm trong thang độ cứng, độ cứng còn thường được xác định bằng các vật liệu sau: độ cứng của đồng tiền bằng đồng khoảng 3, mũi dao bằng thép có độ cứng lớn hơn 5 một chút, thủy tinh cửa sổ là 5.5 và cây giũa bằng thép là 7. Trong thực hành, chúng ta có thể ước lượng độ cứng của một viên đá nhỏ hơn 7 bằng cách rạch viên đá với mũi nhọn của cây giũa xem nó bị trầy dễ dàng hay khó khăn. Ví dụ: thủy tinh (H 5.5) bị rạch trầy tương đối dễ dàng, trong khi đó cần một lực mạnh để tạo ra một vết trầy mỏng trên idocrase (H 6.5).   Sử dụng những vật liệu thô, một vết trầy có thể không thấy bằng mắt thường trên bất kì bề mặt nhẵn nào. Quan sát dưới kính hiển vi có độ phóng đại thấp hoặc kính lúp cho phép thấy một vết trầy nhỏ chỉ dài khoảng một milimet. Sau khi một vết trầy được tạo ra, bề mặt nên được lau sạch và kiểm tra lại dưới độ phóng đại để xác định vết trầy có thật sự được tạo ra hay không. Một vệt bụi nhỏ của khoáng vật kiểm tra mềm hơn viên đá được kiểm tra có thể giống với vết trầy.   Liên kết trong một tinh thể có thể thay đổi từ một mặt nguyên tử sang một mặt khác; do đó độ cứng phụ thuộc vào cường độ liên kết nên cũng có thể thay đổi theo hướng tinh thể học. Một tinh thể có thể thể hiện sự thay đổi mức độ độ cứng phụ thuộc vào hướng mà nó bị rạch. Tuy nhiên, trong hầu hết đá quý sự khác nhau này chỉ thay đổi chút ít, ngoại trừ kyanite, một hướng có H = 5, hướng vuông góc với nó H = 7. Sự thay đổi độ cứng trong kim cương cũng được nhận ra bởi những thợ mài kim cương. Mặt song song với mặt lập phương có thể đánh bóng tương đối dễ dàng, nhưng mài và đánh bóng mặt song song với một mặt bát diện thì khó hơn rất nhiều.   Mặc dù thang độ cứng Mohs thì hữu dụng trong việc xác định độ cứng của đá quý, nhưng nó không tuyến tính, nghĩa là khoảng độ cứng giữa hai cặp khoáng vật gần nhau thì không đều nhau. Độ cứng của những khoáng vật trong thang độ cứng Mohs được đo định lượng cho ra một thang độ cứng tuyệt đối hình 5.4. Những vị trí của các khoáng vật trong thang độ cứng Mohs thì được giữ như cũ nhưng corundum có độ cứng lớn hơn thạch anh 4 lần và thấp hơn kim cương 4 lần.   Bởi vì kiểm tra độ cứng có khả năng phá hủy mẫu, nên tránh sử dụng nó trong kiểm định đá quý đã chế tác. Nó có thể được sử dụng khi cần thiết trên những viên đá trong mờ tới đục mài cabochon hoặc trên tượng điêu khắc. Trong trường hợp trên kiểm tra nên được thực hiện trên những vị trí khó thấy như là đế. Kiểm tra độ cứng không nên thực hiện trên những đá quý trong suốt đã mài giác.     (hình  được trích từ sách Gemology)   Tuy nhiên, đôi khi độ cứng có thể được ước lượng một cách không chính xác bằng cách quan sát những cạnh giác trên bề mặt viên đá. Thạch anh, có độ cứng 7, là thành phần chủ yếu của bụi trong không khí. Do đó khi lau bụi trên một viên đá có độ cứng thấp hơn thạch anh (hoặc thậm chí nó tiếp xúc với không khí trong một thời gian dài) cũng có thể tạo ra những vết trầy nhỏ. Vì vậy những khoáng vật đá quý mềm hơn thạch anh thường có những vết trầy trên bề mặt.   Theo GEMOLOGY-second edition Người dịch: Trần Minh Tân-Trần Trung

Trọng Lượng

Trong ngành kinh doanh trang sức trên toàn thế giới, người ta thường sử dụng đơn vị đo lường là carat (viết tắt là “ct”) như một đơn vị chuẩn của việc đo lường

Giác Cắt

Giác Cắt Cắt mài (cut) là phương thức mà con người làm cho vẻ bề ngoài viên đá trở nên đẹp hơn. Ngoài những yếu tố tự nhiên thì cắt mài cũng làm ảnh hưởng lớn đến giá trị của viên đá, chủ yếu là do Cắt mài có thể ảnh hưởng đến màu sắc viên đá   Vị trí của bao thể được che khuất trong quá trình cắt mài làm tăng độ trong suốt cho viên đá   Ảnh hưởng đến trọng lượng viên đá sau khi mài từ đá thô     Hầu hết đá quý mài giác đều có 3 phần chính: crown (phần trên), girdle (gờ), và pavilion (phần dưới). Ngoài dạng tròn, những dạng khác thường được ưa chuộng như là: marquise, heart, and pear.   Khi nói về thủ thuật cắt mài của một viên đá là nói đến sự kết hợp của hai yếu tố: hình dạng (shape) và kiểu cắt (style).   Sau màu sắc, hình dạng và kiểu cắt là hai yếu tố cần chú ý đối với một viên đá màu đã được chế tác. Hình dạng là đường viền bên ngoài của viên đá. Dạng tròn là hình dạng phổ biến nhất. Tất cả các dạng khác thường được gọi là Fancy shape, bao gồm: emerald cut, cushion, antique cushion, oval, pear, marquise, and heart.       Kiểu cắt là cách thức mà thợ cắt mài sắp xếp các mặt giác của một viên đá. Có 3 kiểu cắt cơ bản - brilliant cut, step cut, and mixed cut. Những mặt giác của brilliant cut thì tỏa ra từ mặt bàn (table) hoặc tim đáy (culet) tới gờ và có dạng tam giác hoặc cánh diều. Step cut có các mặt giác đồng tâm cả ở phần trên và phần dưới viên đá. Mixed cut là sự kết hợp của brilliant cut và step cut trên cùng một viên đá. Ngoài những kiểu cắt cơ bản này, thợ cắt mài có thể thêm vào, bớt đi hoặc sắp xếp lại các mặt giác để tạo ra một kiểu cắt mới.     Hầu hết đá quý được cắt mài theo 1 trong 3 kiểu sau: mài tròn chiếu sáng (brilliant cut), emerald cut và kiểu cắt hỗn hợp được kết hợp giữa 2 kiểu cắt trên (mixed cut).   Ngoài mài giác, đá màu thường có hai kiểu cắt phổ biến khác là cabochon (mài bóng) và khắc (carving). Cabochon là viên đá được mài mài nhẵn bóng với phần trên có dạng vòm và phần đế phẳng hoặc hơi cong. Cabochon thường được sử dụng cho những loại đá co hiệu ứng quang học và những loại đá trong mờ hoặc đục như: chalcedony, cẩm thạch, malachite, turquoise,…     Có ba loại cabochon: loại đơn giản với phần trên dạng vòm, phần dưới phẳng, loại thứ hai là cả phần trên và phần dưới đều có dạng vòm, loại còn lại là phần trên dạng vòm, phần dưới được mài giác.     Ngoài những kiểu cắt mài như trên, đá quý còn được khắc, chạm,.. để tạo ra những tác phẩm nghệ thuật. Hình trên là cái lư kiểu Trung Quốc được khắc từ nephrite jade.       Cameo cũng là một kiểu cắt mài truyền thống, loại cắt mài này thường thể hiện chân dung nhìn nghiêng của người phụ nữ được khắc từ đá quý. Hình trên là mặt dây chuyền cameo được khắc từ sardonyx.   Nguồn: GIA

Độ chiếu (lửa – fire)

Độ chiếu (lửa – fire) Thể hiện khả năng phản chiếu ánh sáng của viên đá, phụ thuộc vào độ tán sắc của khoáng vật. Loại đá nào có độ tán sắc càng lớn thì lửa càng mạnh, độ lấp lánh của viên đá càng cao.

Độ Trong Suốt Độ Sạch

Độ Trong Suốt Độ Sạch Độ trong là khả năng cho ánh sáng xuyên vào bên trong viên đá. Viên đá càng trong suốt thì màu sắc càng lấp lánh và giá trị càng cao. Độ sạch là mức độ tạp chất có mặt trong viên đá, bao thể càng ít thì độ sạch càng cao. CLARITY   Một trong những nhân tố quan trọng ảnh hưởng lên giá trị của đá quý là độ tinh khiết, đó là mức độ hiện diện của những khuyết điểm bên ngoài và bao thể. Một khuyết điểm bên ngoài là một tỳ vết trên bề mặt viên đá đã được đánh bóng. Mặt khác, một bao thể lại là khuyết điểm nằm hoàn toàn bên trong, hoặc đi từ ngoài vào đến bên trong viên đá.   Đá màu có nhiều loại khuyết điểm bên ngoài và bao thể, chúng có nhiều ảnh hưởng khác nhau lên vẻ bề ngoài và độ bền của viên đá, đó là khả năng chống lại sự bào mòn, nhiệt độ cao, và hóa chất.   Khuyết điểm bên ngoài là những tỳ vết trên bề mặt như là vết trầy và vết mẻ. Chúng ảnh hưởng ít hoặc không ảnh hưởng đến vẻ đẹp của viên đá quý, trừ khi quá lớn hoặc có số lượng nhiều. Mặt khác, bao thể có thể ảnh hưởng đến viên đá theo nhiều cách khác nhau. Những đặc điểm bên trong này bao gồm những vết nứt, bao thể lỏng, và bao thể tinh thể. Khuyết điểm bề ngoài cùng với bao thể được gọi là những đặc điểm của độ tinh khiết.   Ngoài mối quan hệ với vẻ bề ngoài và độ bền của viên đá, độ tinh khiết còn có mối quan hệ mật thiết với tính hiếm. Bởi theo cách mà viên đá được hình thành, để có được một mẫu hoàn toàn không có bao thể thì cực kỳ hiếm. Một viên đá càng ít bao thể bao nhiêu thì càng hiếm bấy nhiêu. Vì vậy, sự hiếm có này làm tăng thêm giá trị của nó khi tất cả các tính chất khác là như nhau.   Bao thể - inclusions   Như chúng ta đã biết, bao thể thường có nhiều ảnh hưởng hơn khuyết điểm bên ngoài. Ảnh hưởng của chúng phụ thuộc vào kích thước, số lượng, vị trí, và màu sắc hoặc độ nổi.   • Kích thước: Bao thể lớn có nhiều ảnh hưởng hơn bao thể nhỏ.   • Số lượng: Nhìn chung, một viên đá càng có nhiều bao thể thì độ tinh khiết của nó càng thấp đi. Cũng có những trường hợp ngoại lệ: Một viên đá có thể có nhiều bao thể nhỏ và vẫn có độ tinh khiết cao.   • Vị trí: Bao thể ở giữa mặt bàn thì thường dễ thấy hơn những bao thể dưới các giác xung quanh mặt bàn hoặc gần gờ viên đá.   • Màu sắc và độ nổi: Bao thể có màu sắc gần giống với viên đá thì không có gì nổi bật. Nhưng một bao thể có màu khác hẳn với màu của viên đá, như bao thể màu đỏ trong viên đá không màu thì thường có tác động mạnh lên độ tinh khiết. Một vết nứt được lấp đầy không khí cũng sẽ nổi bật.   Ngoài dạng bên ngoài, tính chất hoặc loại bao thể có thể ảnh hưởng lên độ bền của viên đá. Trong nhiều trường hợp, bao thể ảnh hưởng đến độ bền của viên đá sẽ ảnh hưởng lên giá trị. Những vết nứt cũng vậy.         Bao thể càng dễ thấy khi màu sắc tương phản với màu của viên đá, như bao thể đồng màu vàng trong viên tourmaline này.     Vị trí của một bao thể quyết định nó đáng chú ý như thế nào. Bao thể tinh thể ở giữa viên sapphire trên dễ dàng được nhận thấy.   Vết nứt – breaks   Một vết nứt trong đá quý được phân loại như một bao thể. Người kinh doanh thường gọi vết nứt là feathers (nứt dạng lông vũ) bởi vì chúng thường có màu trắng và mỏng. Đôi khi vết nứt không đủ lớn để ảnh hưởng đến bề ngoài viên đá nhưng nó cũng có thể ảnh hưởng đến độ bền và làm giảm giá trị của viên đá. Có 3 loại cơ bản: cát khai, tách khai, vết vỡ.       Vết nứt trong tanzanite trên đây được gọi là “feather”. Thuật ngữ này được dùng để mô tả một loại bao thể đặc biệt.       Emerald thường có những tì vết bên trong có thể ảnh hưởng lên độ bền của viên đá.     Vết vỡ dạng cong hoặc dạng bậc như hình trên thường thấy trong nhiều loại đá quý.   Cát khai - cleavage là loại nguy hiểm nhất trong các loại vết nứt. Nó sinh ra từ những điểm yếu trong cấu trúc của đá. Vì liên kết nguyên tử của tinh thể đá quý bị yếu theo những hướng nào đó. Cát khai là một mặt nứt phẳng mà có thể có xuất hiện dạng bậc. Topaz, tanzanite, kunzite, và moonstone là những loại đá thường có cát khai. Kim cương cũng vậy. Ban đầu cát khai có thể nhỏ nhưng nó có thể dễ dàng trở nên tệ hơn khi được mang hay đeo một cách bất cẩn, đặc biệt khi vô tình bị va mạnh vào đâu đó.    Tách khai - parting là một mặt nứt song song với mặt song tinh. Những mặt song tinh được tạo thành khi cấu trúc tinh thể bị trượt trong quá trình tăng trưởng. Giống như cát khai, tách khai là một mặt nứt phẳng phản ánh điểm yếu trong cấu trúc của viên đá. Nó cũng có thể hình thành hoặc mở rộng bởi một tách động không cố ý. Bạn sẽ thấy tách khai rõ nhất ở sapphire sao màu đen.   Vết vỡ - fracture là bất kì vết nứt nào trong đá quý ngoài cát khai và tách khai. Vết vỡ thường có dạng vỏ sò, giống như vết bể cong trong thủy tinh. Chúng thường xuyên xuất hiện trong quá trình hình thành đá quý hoặc trong quy trình khai thác mỏ. Một vết vỡ có thể xuất hiện ở bất kỳ viên đá nào bị va đập mạnh. Vết vỡ thường thấy ở bề mặt của một số loại đá quý – đặc biệt là emerald – thường được lấp đầy bởi dầu hoặc nhựa tổng hợp làm chúng ít bị nhận thấy.   Bao thể lỏng và bao thể tinh thể   Nhiều loại đá màu trong suốt, nhất là emerald và tourmaline, thường có bao thể lỏng. nếu bao thể lỏng đủ lớn hoặc nhiều, chúng có thể ảnh hưởng đến vẻ đẹp, giá trị của viên đá. Một viên đá quý có bao thể lỏng dễ bị tác động xấu như nứt, vỡ bởi nhiệt độ cao trong quá trình sửa nữ trang. Ví dụ: bao thể có thể bị phá hủy và gây nứt viên đá.     Bao thể lỏng hoặc bao thể tinh thể có thể xuất hiện thành nhóm mà đôi khi được gọi là “fingerprints” bở vì chúng giống dấu vân tay.     Trong quá trình tăng trưởng, các tinh thể nhỏ hơn có thể bị bao vào bên trong. Khoáng vật màu vàng trong viên emerald trên là pyrite.       Emerald thường có bao thể ba pha: rắn, lỏng và khí.      Nhiệt độ có thể làm cho bao thể lỏng trong viên tanzanite trên dãn nở và có thể làm rạn nứt viên đá.     Những bao thể nhìn thấy bằng mắt thường trong viên tourmaline này có thể làm giảm giá trị của viên đá.     Ngoài làm giảm giá trị những bao thể thấy bằng mắt thường có thể làm giảm độ bền của viên đá như ở viên tourmaline đỏ trên đây.   Ngoài bao thể lỏng, quá trình tăng trưởng tinh thể cũng có thể bẫy các tinh thể nhỏ hơn. Những bao thể này được gọi là bao thể tinh thể. Chúng có thể xuất hiện ở hầu hết các loại đá quý. Nếu bao thể tinh thể nhiều hoặc lớn, chúng có thể làm giảm giá trị viên ngọc.

Màu Sắc

Màu Sắc Mỗi một loại đá quý thường có một màu đặc trưng, đây cũng là màu đẹp nhất và giá trị nhất của loại đá đó. Như ruby thì màu đặc trưng là màu đỏ đậm và đỏ phớt tía (màu đẹp nhất thường đỏ như huyết bồ câu). CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG LÊN MÀU CỦA ĐÁ QUÝ     1. CẮT MÀI (CUT)           Để có được một viên đá đẹp sau khi chế tác thợ cắt mài phải kiểm tra tinh thể thô rất cẩn thận trước khi tiến hành bước đầu tiên của quá trình cắt mài. Mỗi mẫu đá thô có một dạng phân bố màu (hàm lượng và vị trí của màu trong tinh thể) đặc trưng của nó. Ví dụ: màu xanh dương trong sapphire thô có thể chỉ nằm tại hai chóp tinh thể.   Trong nhiều tinh thể sapphire xanh dương màu chỉ tập trung ở gần bề mặt và bên trong gần như không màu, vì vậy thợ cắt mài phải định hướng sao cho viên đá sau khi mài phải có chứa một số vùng có màu từ tinh thể - Ảnh: Peter Johnston/GIA   Một mẫu đá thô có màu đều đặn có thể mài thành những viên đá có màu khác nhau phụ thuộc vào kích thước và tỉ lệ cắt mài của viên đá sau khi mài. Ví dụ: một viên topaz thô có màu hồng nhạt chỉ có thể mài thành một viên đá có màu đẹp khi nó có kích thước đủ lớn. Vì vậy khi gặp những loại này thợ cắt mài phải cắt thành một viên đá lớn, màu đậm thay vì cắt thành một số viên nhỏ có tỉ lệ cắt mài chuẩn nhưng có màu nhạt hơn. Đối với những viên đá thô có màu phân bố thành từng lớp song song với những mặt tinh thể hoặc nằm gần bề mặt của tinh thể. Để có được những viên đá có màu đẹp nhất (mà viên đá đó có thể) sau khi mài khi nhìn viên đá từ trên mặt thì thợ cắt mài phải định hướng sao cho những lớp màu phải song song với gờ hoặc đặt phần màu đậm ở chóp đáy (culet) của viên đá được mài giác.   Khi nhìn từ trên mặt viên sapphire này gần như có màu đều đặn, tuy nhiên khi nhìn từ bên cạnh thì màu xanh dương chỉ là một lớp mỏng nằm dưới mặt bàn - Ảnh: Shane McClure/GIA   Tỉ lệ cắt mài chính xác có thể làm cho viên đá thể hiện tối đa độ chiếu sáng và màu của nó, nhưng chúng ta phải xem xét đến lợi ích kinh tế để cắt mài mỗi viên đá thô vì khi cắt mài đúng chuẩn có thể làm giảm trọng lượng viên đá rất nhiều.   2. ĐỚI MÀU (COLOR ZONING)   Thông thường, màu của một viên đá thô không được phân bố một cách đều đặn và thợ cắt mài phải kiểm tra kĩ lưỡng để tạo ra màu đẹp nhất cho viên đá sau khi mài. Sapphire xanh dương và amethyst thường có những vùng màu đậm, song song với mặt tinh thể của chúng. Đây được gọi là đới màu, nó được tạo ra bởi sự thay đổi điều kiện tăng trưởng và chất tạo màu trong quá trình tinh thể kết tinh.     Đới màu màu góc cạnh đi theo những mặt tinh thể trong amethyst thiên nhiên - Ảnh: D. Beaton/GIA   Đới màu là những khu vực có màu không đều đặn hoặc những màu khác nhau khi nhìn viên đá cùng một hướng. Sapphire có tông màu tối từ một số nguồn gốc thường chứa những đới màu góc cạnh, đây là những dải gồm những màu khác nhau hoàn toàn hoặc cùng một màu nhưng cường độ khác nhau. Thường sẽ thấy những dải màu đậm nằm xen kẽ với những dải gần không màu. Do tông của những loại sapphire này thường quá đậm nên không thể thấy đới màu.   Nếu cắt mài cẩn thận có thể giảm những ảnh hưởng của đới màu. Trong amethyst, đới màu được định hướng sao cho những dải màu nằm song song với gờ. Đới màu trong amethyst thường có thể chấp nhận được miễn là nó không được nhìn thấy từ bề mặt viên đá. Trong những tinh thể có đới màu, thợ cắt mài có thể tập trung màu trong một khu vực nhỏ, thường nằm gần với culet, điều này sẽ làm nổi bật màu của viên đá khi nhìn từ trên mặt, thậm chí nếu phần còn lại của viên đá có màu rất nhạt hoặc không màu. Nếu đới màu nhìn thấy được trên bề mặt viên đá mà thợ cắt mài không thể che giấu được, gọi là unintended color zoning và được xem như một đặc điểm của độ tinh khiết.   Đôi khi hàm lượng của những nguyên tố vết thay đổi một cách đột ngột khi viên đá tăng trưởng. Trong một số loại đá quý, sự thay đổi của những nguyên tố vết này là nguyên nhân của sự thay đổi màu trong quá trình tăng trưởng. Điều này làm cho viên đá có hai hoặc nhiều đới màu rõ rệt. Nếu màu khác nhau hoàn toàn, thợ cắt mài phải cắt sao cho đặc điểm này của viên đá nổi bật nhất. Ametrine và tourmaline hai màu thì được cắt (có chủ tâm) để thể hiện những đới màu này.     Hai viên đá này được cắt mài với đới màu được thể hiện rõ ràng. Corundum từ Việt Nam với màu xanh dương và màu hồng trên cùng một tinh thể (trái) - Ảnh: Maha Tannous/GIA. Ametrine là sự kết hợp của amethyst và citrine (phải) - Ảnh: Robert Weldon/GIA   3. ĐA SẮC (PLEOCHROISM)   Trong hầu hết các hướng bên trong viên đá dị hướng, trong suốt và có màu ánh sáng đi vào sẽ tách thành hai tia, mà có thể làm cho viên đá có những thân màu khác nhau, phụ thuộc vào sự định hướng cắt mài và góc nhìn. Đây được gọi là đa sắc.       Đa sắc màu xanh dương và màu tía của tanzanite đã xử lý nhiệt được quan sát dưới kính đa sắc - Ảnh: Dr. Eduard J. Gubelin/GIA   Những loại đá như là andalusite, iolite và tanzanite, đa sắc có thể thấy bằng mắt thường. Ví dụ: andalusite được cắt mài sao cho khi nhìn viên đá từ trên mặt có thể thấy được hỗn hợp màu đa sắc vàng-lục và cam đặc trưng. Và tanzanite có thể có màu phớt xanh dương nhiều hơn hoặc phớt tím nhiều hơn trên bề mặt phụ thuộc vào sự định hướng của việc cắt mài.   Một số loại đá quý có đa sắc rất mạnh mà có thể nhìn thấy bằng mắt thường. Tanzanite thể hiện đa sắc màu xanh dương và màu tím (trái). Andalusite thể hiện đa sắc màu đỏ và lục (phải) - Ảnh: Robert Weldon/GIA   Đối với một số loại đá như là ruby, tourmaline và sapphire, một số màu đa sắc có thể làm cho thân màu viên đá không được đẹp, vì vậy viên đá thô phải được định hướng cẩn thận trước khi cắt mài để thể hiện màu đẹp nhất trên bề mặt viên đá sau khi cắt mài. Thật may mắn trong ruby và sapphire sự định hướng để có màu đẹp nhất cũng là hướng làm cho viên đá có trọng lượng lớn nhất sau khi mài. Ví dụ: sapphire xanh dương sẽ có màu đa sắc đẹp nhất nếu mặt bàn được cắt vuông góc với chiều dài tinh thể (trục c), nếu cắt mặt bàn song song với chiều dài tinh thể thì sẽ có màu xanh dương phớt lục trên bề mặt viên đá, làm cho viên đá có màu không đẹp và giảm giá trị.   Một số loại đá đẳng hướng – như là spinel – có thể có một màu thứ cấp (second) trên bề mặt. Đây không phải là đa sắc. Nó xuất hiện khi ánh sáng phản chiếu bên trong viên đá phản ứng với ánh sáng truyền qua nó. Nếu kiểm tra với kính đa sắc thì chỉ thấy có một màu.   4. ĐỘ TINH KHIẾT (CLARITY)   Những bao thể mà làm gián đoạn đường đi của ánh sáng xuyên qua viên đá mài giác sẽ làm giảm độ chiếu sáng và cường độ màu. Nhưng một số bao thể cũng có thể đem lại những ảnh hưởng tích cực lên bề ngoài viên đá. Ví dụ: những bao thể mịn có thể phân tán ánh sáng bên trong viên đá mài giác và làm cho những vùng tối của viên đá (extinction) ít bị chú ý hơn.     Những sợi rutile dài, mảnh có thể gây ra hiệu ứng “sleepy” trong sapphire xanh dương - Ảnh: John Koivula/GIA   Bao thể cũng có thể tạo ra màu của viên đá. Những hạt mica màu lục là nguyên nhân gây ra thân màu lục cho, và những bao thể hematite màu nâu nhạt làm cho một số sapphire vàng có màu đậm hơn.   5. PHÁT HUỲNH QUANG (FLUORESCENCE)   Một số vật liệu phát ra ánh sáng khi nó được đặt dưới tia cực tím (UV), đây được gọi là phát huỳnh quang. Ánh sáng mặt trời và đèn huỳnh quang phát ra một số tia cực tím (UV), và nhiều loại đá quý phát huỳnh quang khi đặt dưới điều kiện này.   Phát huỳnh quang làm cho spinel đỏ thêm phần rực rỡ. Nó cũng làm tăng màu đỏ của ruby giàu chromium. Nhưng ruby từ một số nguồn gốc thì giàu sắt, và sắt là chất cản phát huỳnh quang nên những loại ruby này không phát huỳnh quang dưới tia cực tím. Thông thường, ruby phát huỳnh quang thì có giá trị cao hơn những loại không phát huỳnh quang, mặc dù ở một khí cạnh khác thì phát huỳnh quang có thể làm giảm độ chiếu sáng của viên đá.       Phát huỳnh quang màu đỏ có thể làm tăng màu đỏ trong một số loại ruby giàu chromium - Ảnh: Benjamin Zucker/Precious Stone Company, New York   6. HIỆU ỨNG ĐỔI MÀU (COLOR CHANGE)   Một viên đá có những màu sắc khác nhau dưới những loại ánh sáng khác nhau, gọi là hiệu ứng đổi màu. Chromium và vanadium là những chất tạo màu thường gây ra hiệu ứng đổi màu trong đá quý.   Đổi màu xuất hiện trong alexandrite chrysoberyl, sapphire đổi màu và garnet đổi màu bởi vì những loại đá này cho phép truyền qua màu đỏ và lục của phổ gần như bằng nhau. Những loại đá này có những thân màu khác nhau, phụ thuộc vào loại ánh sáng mà chúng tiếp xúc. Ví dụ: alexandrite có màu đỏ dưới ánh sáng sợi quang (loại ánh sáng giàu màu đỏ) và có màu lục dưới ánh sáng huỳnh quang (giàu màu lam và lục).     Ánh sáng sợi quang Ánh sáng huỳnh quang Alexandrite     Spphire     Garnet       Mặc dù màu thì khác nhau dưới mỗi nguồn sáng, những tông (tone) và độ bảo hòa (saturation) thì luôn luôn bằng nhau. Khi đánh giá những viên đá đổi màu, trước tiên nên kiểm tra chúng dưới ánh sáng daylight, sau đó chuyển sang ánh sáng sợi quang. Xem xét mức độ và cường độ của sự đổi màu. Trong alexandrite, nếu màu lục đổi thành màu đỏ một cách rõ rệt thì viên đá có giá trị rất cao. Theo GIA – người dịch: Trần Minh Tân