Asset Publisher

Asset Publisher

KIM CƯƠNG XANH LỤC, ĐƯỢC XỬ LÝ BẰNG MUỐI CHIẾU XẠ
18/10/2013

KIM CƯƠNG XANH LỤC, ĐƯỢC XỬ LÝ BẰNG MUỐI CHIẾU XẠ Gần đây một viên kim cương mài tròn nặng 3.17ct được gửi đến phòng thí nghiệm East Coast, nó được phân cấp màu xanh lục đậm (Fancy Deep green) (hình 1). Những viên kim cương tự nhiên có màu này là rất hiếm. Hình 1: Viên kim cương màu xanh lục đậm nặng 3.17ct được chiếu xạ bằng muối chiếu xạ. Hình chụp bởi Jian Xin (Jae) Liao   Khi kiểm tra dưới kính hiển vi ngọc học cho thấy màu sắc bề mặt viên đá rất không bình thường. Bề mặt viên đá có đốm màu tạo ra bởi quá trình nhuộm màu xanh lục rất nông, giống như loại được xử lý chiếu xạ (hình 2). Đặc điểm đặc biệt này hiếm khi thấy được ở bề mặt hoặc các mặt giác của kim cương tự nhiên. Màu chiếu xạ tự nhiên trên bề mặt tinh thể kim cương sẽ được loại bỏ gần hết trong quá trình mài giác.      Hình 2: khi quan sát dưới độ phóng xạ 35x, viên kim cương cho thấy hiệu ứng đốm màu tạo bởi nhuộm màu chiếu xạ xanh lục. Hình chụp của Jian Xin (Jae) Liao      Viên đá có được màu xanh lục là nhờ nhuộm màu chiếu xạ nông. Ngày nay, hầu hết những viên kim cương được chiếu xạ nhân tạo được xử lý bằng một chùm tia điện tử năng lượng thấp. Việc này thường tạo ra đới màu nông thâm nhập vào viên đá và nằm song song với mặt giác. Trong trường hợp này, nhuộm nông đã được tạo ra bằng phương pháp cũ hơn là phơi kim cương với muối phóng xạ trong một thời gian dài. Phương pháp này sử dụng chủ yếu trên đá được đánh bóng và nó để lại nhiễm bẩn bề mặt.   Những viên đá được chiếu xạ theo cách này có thể còn tàn dư phóng xạ, vì vậy chúng tôi đã kiểm tra viên đá này bằng máy Geiger. Chỉ có bức xạ phông được phát hiện, cho thấy rằng xử lý này có thể xảy ra từ thập niên trước. Như vậy kim cương này không có phóng xạ nguy hiểm. Ông William Crookes là người đầu tiên phát hiện ra tác động của phóng xạ lên kim cương màu bằng cách tiến hành một loạt các thí nghiệm sử dụng muối radium vào năm 1904. Mặc dù ngày nay hiếm khi gặp phải loại này nhưng những viên kim cương xử lý loại này vẫn còn xuất hiện trên thị trường. Kiểm tra cẩn thận bề mặt viên đá dưới ánh sáng khuếch tán là cách hiệu quả nhất để phát hiện màu sắc bề mặt cần chuẩn đoán.                                          Tác giả: Marzena Nazz và Paul Johnson                                           Trích từ: G&G winter 2013, volume 49                                            Người dịch: Nguyễn T.Mai Sinh



Bao thể Omphacite và Pyrope-Almandine Garnet trong kim cương
15/05/2013

Bao thể Omphacite và Pyrope-Almandine Garnet trong kim cương Gần đây phòng thí nghiệm ngọc học Carlsbab đã giám định một viên kim cương vàng-lục (Fancy yellow-green) 2.03 ct chứa bao thể omphacite – một loại pyroxen màu lục phớt lam, tiếp xúc với bao thể pyrope-almandine garnet màu cam. Cả hai đều được nhận dạng bằng tính chất quang học và quan sát đặc điểm bên ngoài bao thể Trong tự nhiên, omphacite và garnet đôi khi cũng xuất hiện dưới dạng những tinh thể đơn khoáng trong kim cương được thành tạo từ môi trường eclogitic, nhưng màu của hai tinh thể trong bao thể lưỡng khoáng này tương phản với nhau làm cho chúng nổi bật hơn khi quan sát. Những bao thể lưỡng khoáng (bi-mineralic) khác cũng đã được nhắc đến trong các văn liệu ngọc học như là chromium pyrope và pyroxene (e.g., E.J. Gübelin and J.I. Koivula,Photoatlas of Inclusions in Gemstones, ABC Edition, Zurich, 1986, p. 95), nhưng đây là ví dụ đầu tiên về bao thể omphacite và pyrope-almandine tiếp xúc với nhau được thấy tại phóng thí nghiệm Carlsbab. Chúng tôi cũng đã thấy sự graphite hóa giữa bao thể lưỡng khoáng này và kim cương, và xung quanh một tinh thể omphacite đơn khoáng khác.  Bao thể lưỡng khoáng omphacite xanh dương phớt xám và pyrope-almandine garnet cam đã xác nhận nguồn gốc eclogitic của viên kim cương vàng-lục 2.03ct này. Ngoài ra còn thấy được sự graphite hóa dọc theo bề mặt ranh giới giữa bao thể và kim cương. Ảnh: Nathan Renfro   Kiểm tra dưới ánh sáng phân cực, viên kim cương thể hiện sức căng với màu giao thoa xám tối bậc thấp xung quanh cả bao thể lưỡng khoáng và bao thể omphacite đơn khoáng với ranh giới giữa bao thể và kim cương bị graphite hóa. Tuy nhiên, những bao thể omphacite đơn lẻ khác không bị graphite hóa thì có sức căng dạng halo với màu giao thoa bậc cao. Chúng tôi không biết chính xác nguyên nhân của sự biến đổi sức căng với màu giao thoa bậc thấp và bậc cao, nhưng nó có thể liên quan tới sự graphite hóa, bởi vì những bao thể bị graphite hóa thì dọc theo bề mặt của nó có sức căng với màu giao thoa thấp hơn những bao thể không bị graphite hóa. Dưới ánh sáng phân cực, khu vực xung quanh bao thể lưỡng khoáng omphacite/pyrope-almandine thể hiện sức căng bậc thấp. Ảnh: Nathan Renfro Bao thể tiếp xúc này là một ví dụ rất đáng lưu ý khi quan sát dưới kính hiển vi vì nó có thể cung cấp bằng chứng về nguồn gốc địa chất, cũng như mối quan hệ giữa graphite và mức độ của sức căng                                                                                                                  Troy Ardon and Tara Allen  GIA, Carlsbad                                                                                                                                   Dịch: Trần Minh Tân  



Kim Cương Lục Phớt Vàng
10/11/2012

Kim Cương Lục Phớt Vàng Kim cương lục phớt vàng được xử lý nhiều bước (multi-treated)còn hiếm trên thị trường đá quý. Tâm màu được tạo ra do chiếu xạ (tự nhiên hoặc nhân tạo) là nguyên nhân chủ yếu tạo ra màu lục trong kim cương, tuy nhiên màu thường rất nhạt. Gần đây phòng thí nghiệm ngọc học Carlsbad đã giám định một viên kim cương 0.99 ct có màu lục phớt vàng đậm (Fancy Deep yellowish green) là kết quả của quá trình xử lý nhiều bước. Quá trình xử lý nhiều bước đã tạo ra được kim cương màu cam, hồng và đỏ, nhưng chỉ gần đây GIA mới thấy kim cương màu lục đậm được xử lý nhiều bước.     Màu lục phớt vàng đậm của viên kim cương 0.99 ct này là kết quả của quá trình xử lý nhiều bước liên quan tới xử lý HPHT và chiếu xạ. Ảnh: Robison McMurtry   Kiểm tra dưới kính hiển vi viên kim cương lục phớt vàng này phát hiện sọc màu nâu (brown graining) và cát khai bị gặm mòn (etched cleavage). Phát ra màu lục mạnh dưới ánh sáng sợi quang, cho biết sự hiện diện của tâm màu H3. Khi kiểm tra trong dung dịch nhúng, viên kim cương có đới màu lục mờ gần tim đáy. Phổ hồng ngoại FTIR phát hiện ra rằng đây là viên kim cương loại Ia với những khuyết tật liên quan tới hydrogen, cũng như những bằng chứng của cả xử lý HPHT và chiếu xạ sau HPHT; tâm màu H1a (1450 cm-1) chủ yếu là do chiếu xạ. Phổ UV-Vis-NIR thể hiện những đặc điểm hấp thu tại 595, 666 và 741 (GR1) nm, xác nhận rằng chiếu xạ nhân tạo đã tác động mạnh mẽ vào thành phần màu lục.   Bởi vì sọc màu nâu và những dấu hiệu của xử lý được phát hiện, chúng tôi kết luận rằng viên đá này bắt nguồn từ kim cương màu nâu loại Ia được xử lý HPHT để tạo ra màu vàng tới vàng phớt lục đậm. Tiếp theo là chiếu xạ nhân tạo để tăng cường độ thành phần màu lục, tạo ra màu đậm một cách bất thường. Loại sản phẩm này có thể thay thế cho kim cương màu lục đậm còn hiếm trên thị trường.   Nathan Renfro and Christopher M. Breeding GIA, Carlsbad



Tóm Lược Xử Lý Màu Kim Cương Và Cách Giám Định.
29/10/2012

Tóm Lược Xử Lý Màu Kim Cương Và Cách Giám Định. Màu của kim cương là do tâm màu quang học hấp thu chọn lọc trong vùng ánh sáng nhìn thấy của phổ điện từ. Những công nghệ xử lý khác nhau đã được ứng dụng để cải thiện màu của kim cương tự nhiên bằng cách loại bỏ tâm màu không mong muốn hoặc tạo ra những tâm màu mới.   Chiếu xạ sau đó có hoặc không có ủ nhiệt được ứng dụng với kim cương từ những năm 1950. Phụ thuộc vào cấu hình khuyết tật trong vật liệu ban đầu, tâm màu quang học (bao gồm H2, GR1, NV, 595 nm, H3 và H4) có thể được đưa vào để tạo ra một loạt màu mới như là lục, xanh dương, vàng, cam, hồng và đỏ. Kiểu xử lý này chỉ có thể tạo ra màu ở kim cương chứ không thể loại bỏ màu đã tồn tại trước đó.   Ủ nhiệt với nhiệt độ cao và áp suất cao (HTHP), quá trình này được ứng dụng từ những năm 1990, cải thiện đáng kể màu của kim cương. Công nghệ này không chỉ loại bỏ màu đã tồn tại trước mà còn tạo ra màu sắc sặc sỡ cho kim cương. Tác động chủ yếu của xử lý này là loại bỏ màu nâu liên quan với cụm lổ hổng (vacancy clusters), phóng thích boron không hoạt động quang học và thành lập những tâm màu quang học khác như là nitrogen, H2 và H3. Ngoài tẩy màu kim cương loại IIa và IaB, xử lý HPHT còn có thể cải thiện màu xanh dương trong kim cương loại IIb và màu hồng trong loại IIa, hoặc tạo ra màu lục, vàng và cam.   Trong những năm qua xử lý chiếu xạ và HPHT được thực hiện riêng biệt, tuy nhiên gần đây chúng được kết hợp với nhau để tạo ra màu mới mà không thể thu được từ hai quá trình riêng biệt. Kim cương xử lý nhiều bước (multiple treatment) này được bán trên thị trường chủ yếu là màu hồng và đỏ, nhiều màu khác cũng có thể xuất hiện.   Giám định kim cương xử lý màu là một trong những thách thức trong phòng thì nghiệm ngọc học trong những thập kỉ qua. Để giám chủ yếu dựa trên việc tìm ra sự khác nhau về cấu hình khuyết tật quang học giữa kim cương có màu tự nhiên và màu xử lý. Sự khác nhau này bao gồm loại khuyết tật cũng như hàm lượng, sự kết hợp và sự phân bố của chúng. Những phương pháp kiểm tra hiện đại được ứng dụng để nhận biết sự khác nhau này.   Viên kim cương 0.24 ct này được xử lý bằng quá trình nhiều bước (multiple processes), bao gồm ủ HPHT và chiếu xạ để tạo ra màu lục phớt vàng (Fancy Intense yellowish green). Ảnh: C.D Mengason   Wuyi Wang (wwang@gia.edu)   GIA, New York  



Kim cương tìm thấy ở đâu
27/08/2012

Kim cương tìm thấy ở đâu   Ngày nay đa số kim cương tìm thấy tại Úc, Daia, Botswana, Nga, Nam Phi và một phần ở Nam Mỹ. Nói chung kim cương được khai thác tại 20 nước trên khắp 4 châu lục Nhiều kim cương được tìm thấy ngay tại nơi nó được đưa lên mặt đất, một số mỏ lớn được khai thác tại những nơi này.   Có mỏ phải đào cả một khu vực rộng lớn. Trung bình phải đào tới 250 tấn quặng mới có được một viên kim cương hoàn chỉnh nặng một ca-ra.   Nhưng không phải tất cả kim cương đều tìm thấy nơi nó trồi lên khỏi mặt đất. Qua nhiều thế kỷ, khí hậu đã di chuyển những tảng đá có mang kim cương đi xa khỏi địa điểm ban đầu – dưới suối, dưới sông, nhiều khi ra tới biển.   Do đó chúng ta nhiều khi nghe chuyện kể về việc có người lượm được viên kim cương lớn nằm trơ trên mặt đất, điều đó có thật nhưng rất hiếm. Hàng tấn cát đào đi để tìm những viên đá dưới lòng đại dương có thể có kim cương thô do những dòng sông cổ xưa mang tới.      Mỏ kim cương Kimberly - Nam Phi  Mỏ kim cương Mirny - Siberia  Mỏ kim cương Diavik - Canada Mỏ Udachnaya - Nga  



MỘT SỐ TÍNH CHẤT VẬT LÝ CỦA ĐÁ QUÝ
06/08/2012

ĐỘ CỨNG (HARDNESS) Sức kháng cự của một vật liệu đá quý với sự gạch xước hoặc sự mài mòn là độ cứng của nó, kí hiệu là H. Sức kháng cự phụ thuộc vào cường độ của lực liên kết giữa các nguyên tử với nhau. Để đơn giản hóa thì lực liên kết mạnh tương ứng với viên đá cứng. Do đó, độ cứng là một tính chất quan trọng, một trong những thuộc tính quan trọng của đá quý, bởi vì độ bền phụ thuộc vào nó rất nhiều.   Một số cách đo định lượng độ cứng được tạo ra, nhưng phương pháp scratch hardness (vết trầy xước) được sử dụng trong một thời gian dài bởi các nhà khoáng vật học và cũng đáp ứng tốt cho các nhà ngọc học. Theo phương pháp này thì cạnh bén của một khoáng vật đã biết độ cứng mà làm trầy xước bề mặt phẳng của một khoáng vật khác thì nó cứng hơn. Vào năm 1824, nhà khoáng vật học Mohs (Australia) đã chọn 10 khoáng vật tương đối phổ biến và sắp xếp chúng theo thứ tự độ cứng tăng dần từ 1 tới 10 như sau:   Thang độ cứng Mohs   1. Talc 6. Orthoclase 2. Gypsum 7. Quartz 3. Calcite 8. Topaz 4. Fluorite 9. Corundum 5. Apatite 10. Diamond   Mỗi khoáng vật có thể rạch trầy khoáng vật có số thứ tự thấp hơn trên thang độ cứng nhưng không thể rạch trầy khoáng vật có số thứ tự lớn hơn. Ví dụ: kim cương rạch trầy dễ dàng corundum, corundum rạch trầy topaz và topaz rạch trầy thạch anh. Hai khoáng vật có độ cứng giống nhau có thể rạch trầy nhau.   Ngoài những khoáng vật nằm trong thang độ cứng, độ cứng còn thường được xác định bằng các vật liệu sau: độ cứng của đồng tiền bằng đồng khoảng 3, mũi dao bằng thép có độ cứng lớn hơn 5 một chút, thủy tinh cửa sổ là 5.5 và cây giũa bằng thép là 7. Trong thực hành, chúng ta có thể ước lượng độ cứng của một viên đá nhỏ hơn 7 bằng cách rạch viên đá với mũi nhọn của cây giũa xem nó bị trầy dễ dàng hay khó khăn. Ví dụ: thủy tinh (H 5.5) bị rạch trầy tương đối dễ dàng, trong khi đó cần một lực mạnh để tạo ra một vết trầy mỏng trên idocrase (H 6.5).   Sử dụng những vật liệu thô, một vết trầy có thể không thấy bằng mắt thường trên bất kì bề mặt nhẵn nào. Quan sát dưới kính hiển vi có độ phóng đại thấp hoặc kính lúp cho phép thấy một vết trầy nhỏ chỉ dài khoảng một milimet. Sau khi một vết trầy được tạo ra, bề mặt nên được lau sạch và kiểm tra lại dưới độ phóng đại để xác định vết trầy có thật sự được tạo ra hay không. Một vệt bụi nhỏ của khoáng vật kiểm tra mềm hơn viên đá được kiểm tra có thể giống với vết trầy.   Liên kết trong một tinh thể có thể thay đổi từ một mặt nguyên tử sang một mặt khác; do đó độ cứng phụ thuộc vào cường độ liên kết nên cũng có thể thay đổi theo hướng tinh thể học. Một tinh thể có thể thể hiện sự thay đổi mức độ độ cứng phụ thuộc vào hướng mà nó bị rạch. Tuy nhiên, trong hầu hết đá quý sự khác nhau này chỉ thay đổi chút ít, ngoại trừ kyanite, một hướng có H = 5, hướng vuông góc với nó H = 7. Sự thay đổi độ cứng trong kim cương cũng được nhận ra bởi những thợ mài kim cương. Mặt song song với mặt lập phương có thể đánh bóng tương đối dễ dàng, nhưng mài và đánh bóng mặt song song với một mặt bát diện thì khó hơn rất nhiều.   Mặc dù thang độ cứng Mohs thì hữu dụng trong việc xác định độ cứng của đá quý, nhưng nó không tuyến tính, nghĩa là khoảng độ cứng giữa hai cặp khoáng vật gần nhau thì không đều nhau. Độ cứng của những khoáng vật trong thang độ cứng Mohs được đo định lượng cho ra một thang độ cứng tuyệt đối hình 5.4. Những vị trí của các khoáng vật trong thang độ cứng Mohs thì được giữ như cũ nhưng corundum có độ cứng lớn hơn thạch anh 4 lần và thấp hơn kim cương 4 lần.   Bởi vì kiểm tra độ cứng có khả năng phá hủy mẫu, nên tránh sử dụng nó trong kiểm định đá quý đã chế tác. Nó có thể được sử dụng khi cần thiết trên những viên đá trong mờ tới đục mài cabochon hoặc trên tượng điêu khắc. Trong trường hợp trên kiểm tra nên được thực hiện trên những vị trí khó thấy như là đế. Kiểm tra độ cứng không nên thực hiện trên những đá quý trong suốt đã mài giác.     (hình  được trích từ sách Gemology)   Tuy nhiên, đôi khi độ cứng có thể được ước lượng một cách không chính xác bằng cách quan sát những cạnh giác trên bề mặt viên đá. Thạch anh, có độ cứng 7, là thành phần chủ yếu của bụi trong không khí. Do đó khi lau bụi trên một viên đá có độ cứng thấp hơn thạch anh (hoặc thậm chí nó tiếp xúc với không khí trong một thời gian dài) cũng có thể tạo ra những vết trầy nhỏ. Vì vậy những khoáng vật đá quý mềm hơn thạch anh thường có những vết trầy trên bề mặt.   ĐỘ DAI (TUOGHNESS)   Sự kết dính (cohesiveness) của một khoáng vật là sức kháng cự của nó đối với sự đập vỡ hoặc làm hư hại, nó được gọi là độ dai. Độ dai và độ cứng là những nhân tố xác định độ bền của đá quý, nhưng chúng không nhất thiết có liên quan tới nhau. Hầu hết kim cương thì tương đối dòn và bởi vì cát khai tốt của chúng, nên dễ vỡ khi bị đập một lực mạnh. Tuy nhiên, loại màu đen (carbonado) được hình thành từ nhiều tinh thể nhỏ mọc xen lẫn nhau nên dai và rất cứng. Cẩm thạch nephrite là một loại đá quý có sức kháng cự rất tố với sự đập vỡ, bởi vì thành phần của nó là những tinh thể dạng sợi mọc xen lẫn nhau và cát khai trong một tinh thể thì thường không liên tục với cát khai trong tinh thể kế bên.   Jadeite thường được chế tác dạng mề đay và vòng   ĐỘ ỔN ĐỊNH (STABILITY)   Mặc dù độ bền của đá quý phụ thuộc nhiều vào độ cứng và độ dai, nhưng độ ổn định là một nhân tố khác cũng góp phần vào độ bền. Độ ổn định là sức kháng cự của vật liệu với sự biến đổi của ánh sáng, nhiệt hoặc ăn mòn hóa học. Một số đá quý như là: carbonate (malchite, rhodochroisite, calcite, aragonite, sò, ngọc trai và ngọc ốc) bị ăn mòn nhanh chóng thậm chí bởi acid loãng; acid HCl loãng sẽ làm chúng sủi bọt (ngọc trai có thể bị mất ánh). Kiểm tra bằng acid HCl thỉnh thoảng được sử dụng để nhận dạng các vật liệu như là: onyx-marble calcite (kiểm tra này không nên thực hiện trên ngọc trai). Acetone là một chất hóa học khác thỉnh thoảng được sử dụng để kiểm tra độ bền, nó ăn mòn dễ dàng bề mặt nhựa thông được hóa thạch tương đối mới như là nhựa copal nhưng sẽ ăn mòn rất ít bề mặt của hổ phách.   Những vật liệu khác sẽ bị nhạt màu dần khi chúng tiếp xúc với ánh sáng mạnh (ví dụ: kunzite, spodumen loại màu hồng và một số topaz vàng tới nâu). Độ ổn định của những vật liệu này nên được quan tâm khi sử dụng chúng làm đồ trang sức (theo khía cạnh này một số kunzite thì phù hợp cho việc sử dụng như là “evening stone” ).   Một số đá quý mà màu của nó là do dự chiếu xạ nhân tạo nên sẽ nhạt rất nhanh chóng khi tiếp xúc với ánh sáng hoặc nhiệt (sapphire vàng được chiếu xạ). Trên thực tế, một số phòng thí nghiệm sẽ tiến hành kiểm tra sự hiện tượng phai màu của những loại đá quý trên để xác định độ ổn định màu.   Cuối cùng, một số đá quý có sự thay đổi về lượng nước trong cấu trúc của chúng làm chúng bị mất nước. Ví dụ như opal có chất lượng ngọc, mà chứa 3-10% nước. Thậm chí nhiệt được sinh ra bởi ánh sáng mặt trời chiếu trực tiếp hoặc những tia sáng mạnh cũng có thể làm chúng bị mất nước hoặc mất hiện tượng play-of-color.   Độ ổn định cũng là mối quan tâm hàng đầu đối với các nhà ngọc học ngày nay trong việc xác định những loại đá quý nên được chăm sóc như thế nào và làm sạch hoặc sửa chữa sản phẩm như thế nào thì an toàn.   TỶ TRỌNG (SPECIFIC GRAVITY)   Tỷ trọng (SG), hoặc mật độ tương đối, là một số biểu diễn tỷ số giữa trọng lượng của vật chất với trọng lượng của thể tích nước tại 40C. Do đó, nếu trọng lượng của một viên ruby là 5ct và trọng lượng thể tích nước là 1.25 ct thì tỷ trọng của nó là 4.00.Tỷ trọng của đá quý có thể xác định dễ dàng và có thể là một tính chất quan trọng. Hơn thế nữa, khác với độ cứng, trong hầu hết trường hợp xác định tỷ trọng thì không phá hủy mẫu.   Trong vật chất kết tinh tỷ trọng phụ thuộc chủ yếu vào hai yếu tố: loại nguyên tử hiện diện và cách mà chúng sắp xếp và liên kết với nhau. Trong bảng trọng lượng nguyên tử trọng lương tương đối của các nguyên tử được trình bày theo thứ tự từ 1 của hydrogen đến 238 của uranium. Thông thường, chúng ta thấy rằng những khoáng vật có thành phần là những nguyên tố nặng có tỷ trọng cao hơn những khoáng vật có thành phần là những nguyên tố nhẹ nếu cấu trúc tinh thể giống nhau. Điều này được minh họa rõ bằng những khoáng vật carbonate, mà chúng chỉ khác nhau về cation.   Trong phần độ cứng, chúng ta đã lưu ý rằng khoáng vật có liên kết nguyên tử mạnh thì có độ cứng cao. Tương tự, liên kết cũng ảnh hưởng lên tỷ trọng; khoáng vật có các nguyên tử sắp xếp chặt hơn và liên kết mạnh hơn thì có tỷ trọng cao hơn. Giống như những khoáng vật đa hình (những khoáng vật gồm những nguyên tử giống nhau trong cùng tỷ lệ), khoáng vật có độ cứng cao thì có tỷ trọng cao. Anatase và rutile là hai khoáng vật đa hình của TiO2, anatase-H 5.5, SG 3.88; rutile-H 6.5, SG 4.20. Một minh họa rõ ràng nhất là các dạng đa hình của carbon: kim cương và graphite. Kim cương với liên kết nguyên tử mạnh và sắp xếp chặt chẽ có H 10, SG 3.52, graphite với các lớp có khoảng cách rộng của những nguyên tử giống nhau được giữ lại với nhau bởi liên kết yếu có H 1.5, SG 2.23.   Theo GEMOLOGY-second edition Người dịch: Trần Minh Tân-Trần Trung



Sapphire Xanh Dương Được Xử Lý Khuếch Tán Với Titanium Và Beryllium
13/07/2012

Sapphire Xanh Dương Được Xử Lý Khuếch Tán Với Titanium Và Beryllium           Gần đây phòng thí nghiệm ngọc học Bangkok đã nhận giám định ba viên sapphire xanh dương trọng lượng từ 7.05 đến 9.28 ct (hình 1). Kiểm tra bằng kính hiển vi phát hiện ra rằng tất cả ba mẫu đều có chứa bao thể dạng kim bị phân hủy một phần, mặt lấp đầy và những bao thể tinh thể bị biến đổi do nhiệt (hình 2). Những bao thể này làm cho chúng ta nhớ đến bao thể trong corundum được xử lý khuếch tán beryllium ((J. L. Emmett et al., “Beryllium diffusion of ruby and sapphire,” Summer 2003 G&G, pp. 84–135).   Hình 1 : Viên sapphire 9.28 ct được xử lý khuếch tán với cả titanium và berylium     Hình 2: Bao thể dạng kim bị phân hủy một phần (bên trái, phóng đại 50x) và những bao thể đặc trưng của sapphire được xử lý nhiệt với nhiệt độ cao (bên phải, phóng đại 40x)             Khi chúng tôi nhúng viên đá trong methylene iodide để kiểm tra đới màu, chúng tôi đã rất ngạc nhiên phát hiện ra rằng màu tập trung dọc theo giao tuyến của các mặt giác và dọc theo gờ (hình 3). Đây là đặc điểm của sapphire xanh dương được xử lý khuếch tán với titanium (R. E. Kane et al., “The identification of blue diffusion-treated sapphires,” Summer 1990 G&G, pp. 115–133), tạo ra một lớp màu mỏng trên bề mặt. Thông thường, sapphire được xử lý khuếch tán titanium thì tương đối sạch; điều này có thể là do vật liệu ban đầu thường là loại geuda từ Sri Lanka đã được xử lý nhiệt nhưng không tạo ra màu như mong muốn. Những viên đá có nhiều bao thể mà bị rạn nứt ra trong giai đoạn đầu của quá trình xử lý nhiệt sẽ bị loại bỏ, chỉ những viên đá sạch mới được đem đi xử lý khuếch tán titanium.   Hình 3: Trong dung dịch nhúng, màu tập trung dọc theo giao tuyến của các mặt giác và gờ là dấu hiệu của sapphire đã được đánh bóng lại sau khi xử lý khuếch tán             Ba viên sapphire đều được phân tích bởi LA-ICP-MS, một bước kiểm tra thông thường đối với corundum được xử lý nhiệt tại phòng thí nghiệm GIA. Đúng như dự đoán, hàm lượng Ti trên bề mặt là 293-579 ppma, cao hơn nhiều so với sapphire xanh dương chưa xử lý. Và hàm lượng Be cũng ở mức cao 4.34 – 31.56 ppma, đây là dấu hiệu của quá trình xử lý khuếch tán với cả titanium và beryllium. Nguyên liệu ban đầu cho quá trình xử lý này là corundum có hàm lượng sắt tương đối cao (471-516 ppma, được phân tích bởi EDXRF) có thể có nguồn gốc từ Songea hoặc Tunduru, Tanzania. Xử lý khuếch tán titanium sẽ cho kết quả tốt khi nguyên liệu ban đầu có hàm lượng sắt thấp, và ngược lại sapphire có hàm lượng sắt cao sẽ tạo ra màu xanh dương sậm. Những viên đá được xử lý khuếch tán Ti có màu quá đậm sau đó được xử lý khuếch tán Be để cố gắng tạo ra màu nhạt hơn. Đánh bóng là bước cuối cùng có thể làm cho viên đá có màu nhạt hơn, đây là lý do tại sao màu tập trung dọc theo giao tuyến các mặt giác và gờ. Garry Du Toit G&G, Vol. 45, No. 4, pp. 293-294 Dịch: Trần Minh Tân



Những Phân Tích Của Kim Cương Chiếu Xạ Và Được Lấp Đầy Khe Nứt
12/07/2012

Những Phân Tích Của Kim Cương Chiếu Xạ Và Được Lấp Đầy Khe Nứt Gần đây, phòng thí nghiệm đá quý GIA của Hoa Kì đã nhận một viên kim cương màu lục phớt lam cắt tròn chiếu sáng nặng 1.22ct đại diện cho báo cáo kim cương màu. Kiểm tra hình ảnh sơ bộ của viên đá đặt câu hỏi về nguồn gốc màu của nó, xuất hiện hoàn toàn giống với kim cương chiếu xạ. Thật vậy, độ phóng đại cho thấy vùng màu lục phớt xanh đi theo đường nét mài giác bên ngoài – một phản ứng phụ thường gặp ở phòng thí nghiệm chiếu xạ - tại phần tim đáy (hình 1). Sự phân vùng này cùng với những khe nứt trong phổ nhìn thấy được quan sát ở kính đo phổ để bàn, đã chứng tỏ rằng màu viên đá là kết quả của chiếu xạ nhân tạo.    Hình 1: viên kim cương mài tròn chiếu sáng nặng 1.22ct lộ ra vùng màu quan sát ở mặt chóp đáy, đây là một loại tác dụng phụ điển hình của chiếu xạ nhân tạo. Cũng có thể thấy được cấu trúc dòng chảy từ khe nứt rộng được lấp đầy. Hình chụp bởi Thomas Gelb ở độ phóng đại 30x.     Tuy nhiên, kiểm tra bằng kính hiển vi cũng cho thấy dấu hiệu của xử lý. Một số khe nứt lớn hiện thị các màu sặc sỡ kết hợp với những vết nứt lấp đầy đặc trưng để cải thiện độ sạch bên ngoài của viên đá (hình 2). Khi kiểm tra gần hơn sẽ thấy cả hiệu ứng màu sặc sỡ và những vết nứt bên trong, cấu trúc dòng chảy mà thường thấy phổ biến ở mặt lấp đầy thủy tinh (hình 1). Hình chụp tia X cung cấp bằng chứng cuối cùng của việc làm tăng độ sạch viên đá (vật liệu lấp đầy bị đục với tia X).     Hình 2: Hình ảnh phân tích gần hơn của viên kim cương ở hình 1 cho thấy nhiều hiệu ứng màu sắc kết hợp với mặt lấp đầy khe nứt để cải thiện độ sạch viên đá. Hình chụp của Thomas Gelb, độ phóng đại 45x.     Mặc dù điều này ít khi thấy ở những viên kim cương đã xử lý của phòng thí nghiệm đá quý GIA nhưng hiếm khi thấy hai cách xử lý trong một viên đá. Dựa vào những đường hạt nhỏ màu nâu thấy được và những vết nứt lớn, nó có thể suy xét rằng viên kim cương mài tròn này có nhiều bao thể màu nâu trước khi xử lý. Vì khe nứt lấp đầy là một xử lý không bền vững nên theo tiêu chuẩn GIA không cung cấp bất cứ thông tin phân cấp trên những viên kim cương đã được xử lý theo cách này.   Dịch giả Nguyễn Thị Mai Sinh (Theo ThomasGelb GIA Gem Laboratory, New York)



Sự Xuất Hiện Của Kim Cương
01/03/2012

Sự Xuất Hiện Của Kim Cương Địa chất của kim cương: từ Carbon trở thành kim cương thô. Điều kiện cần thiết để tạo nên những viên đá quý khác nhau là dựa vào loại khoáng vật tạo nên viên đá. Đó như là một điều kiện đầu tiên tuyệt đối, tuy nhiên, vật chất riêng biệt trong vỏ trái đất cần phải kết hợp theo một tỷ lệ nào đó khi ở nhiệt độ và áp suất rất cao, và sau đó chúng được làm nguội lạnh hẳn trong một khoảng thời gian nào đó thì sẽ hình thành nên những tinh thể. Khả năng mà tất cả những điều kiện này đạt mức độ yêu cầu hiện nay là rất nhỏ, do đó mà nó làm cho những viên đá quý trở nên tương đối hiếm.   Như tất cả các trường hợp của các khoáng vật, kim cương được tạo ra từ đá xâm nhập trong vỏ trái đất ở nhiều nơi khác nhau trên thế giới. Nó được tạo thành từ một nguyên tử duy nhất đó là Carbon . Nhưng ngoài kim cương ra, graphite (than chì) cũng được hình thành từ những carbon tinh thể nguyên chất. Cái làm cho kim cương có độ cứng cao nhất đó là mạng lưới nguyên tử chặt khít của kim cương. Mỗi nguyên tử Carbon liên kết với bốn nguyên tử tạo ra một tinh thể cấu trúc bền vứng. Cấu trúc tinh thể kim cương thuộc hệ lập phương . Kim cương thường có tinh thể dạng bát diện (8 mặt) và ít hơn thường là dạng lập phương (6 mặt) hoặc khối mười hai mặt thoi (12 mặt). Còn Carbon trong graphite liên kết với nhau dưới dạng tấm nên cấu trúc của nó không chặt chẽ bằng kim cương, và đó là lý do tại sao graphite mềm hơn kim cương và có tính chất vật lý khác kim cương. Cấu trúc nguyên tử của kim cương và graphite       Tinh thể dạng bát diện của kim cương      Tinh thể dạng lập phương của kim cương       Tinh thể khối mười hai mặt của kim cương   Một số giả thuyết hiện nay có liên quan tới quá trình kết tinh chính xác của kim cương. Tất cả những giả thuyết này đều dựa trên các thí nghiệm tạo ra kim cương tổng hợp trong phòng thí nghiệm. Thuyết nổi tiếng nhất được biết đến là thuyết sau. Kim cương tạo thành một tinh thể trong một khối nóng chảy, đó là magma lỏng được làm lạnh. Nhiệt độ ban đầu cho quá trình này vào khoảng 1300 độ bách phân, và áp suất vào khoảng 70.000 atm. Điều kiện xung quanh của loại này chỉ xảy ra ở độ sâu khoảng 130 – 200 km bên dưới bề mặt trái đất trong những núi lửa còn hoạt động. Phương trình hóa học cho quá trình này hình thành như sau:   2FeS CO 2 = 2FeO S 2 C   Những thuyết khác dùng những trị số khác nhau cho nhiệt độ và áp suất đến mức độ nào đó, kết quả là để tạo độ sâu. Phương trình hóa học cũng có thể giống một phần hoặc khác nhau hoàn toàn theo các thuyết khác nhau.   Do thành phần hóa học của khối nóng chảy không giống nhau ở mọi nơi và từ đó nó cũng có thể có những thay đổi trong suốt quá trình kết tinh rất chậm, những thay đổi nhỏ thường xảy ra trong thành phần hóa học tạo nên kim cương, ví dụ như kim cương màu . Những viên kim cương màu vàng được hình thành khi Nitrogen được kết hợp trong mạng nguyên tử. Cường độ màu sắc tỷ lệ thuận với những lượng nguyên tử vết hiện diện trong mạng tinh thể. Ngoài ra, nếu những điều kiện được kể đến ở trên dễ thay đổi trong suốt quá trình hình thành tinh thể thì những điều này có thể ảnh hưởng đến kim cương, dẫn đến những hình dạng tăng trưởng bị biến dạng, không đồng đều, tạo nên những song tinh hoặc sự tăng trưởng kết thúc đột ngột. Sự không đồng đều bên trong như là những lỗi cấu trúc trong các hình dạng tăng trưởng, những lớp song tinh và những lớp tăng trưởng là những dấu hiệu của quá trình kết tinh không đồng đều. Ở một số trường hợp rất hiếm, chúng ta tìm thấy những viên kim cương đã tăng trưởng xung quanh những viên xưa hơn và nhỏ hơn chúng.   Tương phản với những thuyết thành tạo của kim cương, thực tế là, những tảng đá ở độ sâu 130 đến 200 km chỉ ở gần bề mặt trái đất khi chúng được đưa ra ngoài bởi những đọt phun trào núi lửa (đá phun trào). Điều này có nghĩa là những viên kim cương được đưa đến bề mặt trái đất qua những đợt phun trào.   Do thực tế là kim cương từ từ phân hủy thành graphite ở 12000C khi không tiếp xúc với không khí, nó cũng có nghĩa là kim cương được đưa lên bề mặt rất nhanh, vì thế mà kết quả là nó được làm lạnh nhanh chóng và giảm áp lực, không có thời gian để phân hủy thành graphite.   Như vậy kim cương đến bề mặt trái đất là kết quả của những đợt phun trào núi lửa mạnh mẽ. Những đợt phun trào đã xảy ra định kỳ trong suốt quá trình lịch sử của trái đất. Những miệng núi lửa trẻ nhất mà chúng ta biết cho đến nay đã được hình thành trong suốt nửa kỉ Creta và có tuổi đại chất vào khoảng 100 triệu năm. Những thợ mỏ gọi những miệng núi lửa này là “ ống núi lửa ”. Đường kính của miệng núi lửa ở bề mặt trái đất thay đổi từ vài chục mét đến hai kilomet. Nó thu hẹp xuống vài mét khi độ sâu tăng dần. Tuổi địa chất của những ống núi lửa khác nhau rất nhiều. Những miệng núi lửa khác già nhất được hình thành vào thời kì tiền Cambri. Chúng được tới 1,2 tỷ năm tuổi.   Kim cương thật sự được tìm thấy từ đá tuff núi lửa được gọi là “ kimberlite ”, được lấy từ tên của thành phố Kimberley ở Nam Phi. Vì kimberlite mang kim cương chỉ đóng vai trò như “băng chuyền” cho kim cương và magma, nó được đánh giá là kimberlite không phải là đá mẹ của kim cương như vẫn thường nhắc tới. Thay vào đó kimberlite chỉ là đá chứa kim cương. Cuối cùng, chúng ta biết rằng các điều kiện cần thiết để hình thành kim cương không còn tồn tại đến ngày nay.   Kim cương thô hình dạng bát diện trong đá chứa kimberlite   Dịch giả Nguyễn Thị Mai Sinh (Theo Verena Pagle – Theisen G.G.,F.G.A, trong Diamond Grading ABC The Manual, 9th edition, 2001)



Các nhân tố ảnh hưởng đến đá quý
23/02/2012

Các nhân tố ảnh hưởng đến đá quý   Để có được một viên đá đẹp sau khi chế tác thợ cắt mài phải kiểm tra tinh thể thô rất cẩn thận trước khi tiến hành bước đầu tiên của quá trình cắt mài. Mỗi mẫu đá thô có một dạng phân bố màu (hàm lượng và vị trí của màu trong tinh thể) đặc trưng của nó. Ví dụ: màu xanh dương trong sapphire thô có thể chỉ nằm tại hai chóp tinh thể.     1. CẮT MÀI (CUT)           Để có được một viên đá đẹp sau khi chế tác thợ cắt mài phải kiểm tra tinh thể thô rất cẩn thận trước khi tiến hành bước đầu tiên của quá trình cắt mài. Mỗi mẫu đá thô có một dạng phân bố màu (hàm lượng và vị trí của màu trong tinh thể) đặc trưng của nó. Ví dụ: màu xanh dương trong sapphire thô có thể chỉ nằm tại hai chóp tinh thể.   Trong nhiều tinh thể sapphire xanh dương màu chỉ tập trung ở gần bề mặt và bên trong gần như không màu, vì vậy thợ cắt mài phải định hướng sao cho viên đá sau khi mài phải có chứa một số vùng có màu từ tinh thể - Ảnh: Peter Johnston/GIA   Một mẫu đá thô có màu đều đặn có thể mài thành những viên đá có màu khác nhau phụ thuộc vào kích thước và tỉ lệ cắt mài của viên đá sau khi mài. Ví dụ: một viên topaz thô có màu hồng nhạt chỉ có thể mài thành một viên đá có màu đẹp khi nó có kích thước đủ lớn. Vì vậy khi gặp những loại này thợ cắt mài phải cắt thành một viên đá lớn, màu đậm thay vì cắt thành một số viên nhỏ có tỉ lệ cắt mài chuẩn nhưng có màu nhạt hơn. Đối với những viên đá thô có màu phân bố thành từng lớp song song với những mặt tinh thể hoặc nằm gần bề mặt của tinh thể. Để có được những viên đá có màu đẹp nhất (mà viên đá đó có thể) sau khi mài khi nhìn viên đá từ trên mặt thì thợ cắt mài phải định hướng sao cho những lớp màu phải song song với gờ hoặc đặt phần màu đậm ở chóp đáy (culet) của viên đá được mài giác.   Khi nhìn từ trên mặt viên sapphire này gần như có màu đều đặn, tuy nhiên khi nhìn từ bên cạnh thì màu xanh dương chỉ là một lớp mỏng nằm dưới mặt bàn - Ảnh: Shane McClure/GIA   Tỉ lệ cắt mài chính xác có thể làm cho viên đá thể hiện tối đa độ chiếu sáng và màu của nó, nhưng chúng ta phải xem xét đến lợi ích kinh tế để cắt mài mỗi viên đá thô vì khi cắt mài đúng chuẩn có thể làm giảm trọng lượng viên đá rất nhiều.   2. ĐỚI MÀU (COLOR ZONING)   Thông thường, màu của một viên đá thô không được phân bố một cách đều đặn và thợ cắt mài phải kiểm tra kĩ lưỡng để tạo ra màu đẹp nhất cho viên đá sau khi mài. Sapphire xanh dương và amethyst thường có những vùng màu đậm, song song với mặt tinh thể của chúng. Đây được gọi là đới màu, nó được tạo ra bởi sự thay đổi điều kiện tăng trưởng và chất tạo màu trong quá trình tinh thể kết tinh.     Đới màu màu góc cạnh đi theo những mặt tinh thể trong amethyst thiên nhiên - Ảnh: D. Beaton/GIA   Đới màu là những khu vực có màu không đều đặn hoặc những màu khác nhau khi nhìn viên đá cùng một hướng. Sapphire có tông màu tối từ một số nguồn gốc thường chứa những đới màu góc cạnh, đây là những dải gồm những màu khác nhau hoàn toàn hoặc cùng một màu nhưng cường độ khác nhau. Thường sẽ thấy những dải màu đậm nằm xen kẽ với những dải gần không màu. Do tông của những loại sapphire này thường quá đậm nên không thể thấy đới màu.   Nếu cắt mài cẩn thận có thể giảm những ảnh hưởng của đới màu. Trong amethyst, đới màu được định hướng sao cho những dải màu nằm song song với gờ. Đới màu trong amethyst thường có thể chấp nhận được miễn là nó không được nhìn thấy từ bề mặt viên đá. Trong những tinh thể có đới màu, thợ cắt mài có thể tập trung màu trong một khu vực nhỏ, thường nằm gần với culet, điều này sẽ làm nổi bật màu của viên đá khi nhìn từ trên mặt, thậm chí nếu phần còn lại của viên đá có màu rất nhạt hoặc không màu. Nếu đới màu nhìn thấy được trên bề mặt viên đá mà thợ cắt mài không thể che giấu được, gọi là unintended color zoning và được xem như một đặc điểm của độ tinh khiết.   Đôi khi hàm lượng của những nguyên tố vết thay đổi một cách đột ngột khi viên đá tăng trưởng. Trong một số loại đá quý, sự thay đổi của những nguyên tố vết này là nguyên nhân của sự thay đổi màu trong quá trình tăng trưởng. Điều này làm cho viên đá có hai hoặc nhiều đới màu rõ rệt. Nếu màu khác nhau hoàn toàn, thợ cắt mài phải cắt sao cho đặc điểm này của viên đá nổi bật nhất. Ametrine và tourmaline hai màu thì được cắt (có chủ tâm) để thể hiện những đới màu này.     Hai viên đá này được cắt mài với đới màu được thể hiện rõ ràng. Corundum từ Việt Nam với màu xanh dương và màu hồng trên cùng một tinh thể (trái) - Ảnh: Maha Tannous/GIA. Ametrine là sự kết hợp của amethyst và citrine (phải) - Ảnh: Robert Weldon/GIA   3. ĐA SẮC (PLEOCHROISM)   Trong hầu hết các hướng bên trong viên đá dị hướng, trong suốt và có màu ánh sáng đi vào sẽ tách thành hai tia, mà có thể làm cho viên đá có những thân màu khác nhau, phụ thuộc vào sự định hướng cắt mài và góc nhìn. Đây được gọi là đa sắc.       Đa sắc màu xanh dương và màu tía của tanzanite đã xử lý nhiệt được quan sát dưới kính đa sắc - Ảnh: Dr. Eduard J. Gubelin/GIA   Những loại đá như là andalusite, iolite và tanzanite, đa sắc có thể thấy bằng mắt thường. Ví dụ: andalusite được cắt mài sao cho khi nhìn viên đá từ trên mặt có thể thấy được hỗn hợp màu đa sắc vàng-lục và cam đặc trưng. Và tanzanite có thể có màu phớt xanh dương nhiều hơn hoặc phớt tím nhiều hơn trên bề mặt phụ thuộc vào sự định hướng của việc cắt mài.   Một số loại đá quý có đa sắc rất mạnh mà có thể nhìn thấy bằng mắt thường. Tanzanite thể hiện đa sắc màu xanh dương và màu tím (trái). Andalusite thể hiện đa sắc màu đỏ và lục (phải) - Ảnh: Robert Weldon/GIA   Đối với một số loại đá như là ruby, tourmaline và sapphire, một số màu đa sắc có thể làm cho thân màu viên đá không được đẹp, vì vậy viên đá thô phải được định hướng cẩn thận trước khi cắt mài để thể hiện màu đẹp nhất trên bề mặt viên đá sau khi cắt mài. Thật may mắn trong ruby và sapphire sự định hướng để có màu đẹp nhất cũng là hướng làm cho viên đá có trọng lượng lớn nhất sau khi mài. Ví dụ: sapphire xanh dương sẽ có màu đa sắc đẹp nhất nếu mặt bàn được cắt vuông góc với chiều dài tinh thể (trục c), nếu cắt mặt bàn song song với chiều dài tinh thể thì sẽ có màu xanh dương phớt lục trên bề mặt viên đá, làm cho viên đá có màu không đẹp và giảm giá trị.   Một số loại đá đẳng hướng – như là spinel – có thể có một màu thứ cấp (second) trên bề mặt. Đây không phải là đa sắc. Nó xuất hiện khi ánh sáng phản chiếu bên trong viên đá phản ứng với ánh sáng truyền qua nó. Nếu kiểm tra với kính đa sắc thì chỉ thấy có một màu.   4. ĐỘ TINH KHIẾT (CLARITY)   Những bao thể mà làm gián đoạn đường đi của ánh sáng xuyên qua viên đá mài giác sẽ làm giảm độ chiếu sáng và cường độ màu. Nhưng một số bao thể cũng có thể đem lại những ảnh hưởng tích cực lên bề ngoài viên đá. Ví dụ: những bao thể mịn có thể phân tán ánh sáng bên trong viên đá mài giác và làm cho những vùng tối của viên đá (extinction) ít bị chú ý hơn.     Những sợi rutile dài, mảnh có thể gây ra hiệu ứng “sleepy” trong sapphire xanh dương - Ảnh: John Koivula/GIA   Bao thể cũng có thể tạo ra màu của viên đá. Những hạt mica màu lục là nguyên nhân gây ra thân màu lục cho, và những bao thể hematite màu nâu nhạt làm cho một số sapphire vàng có màu đậm hơn.   5. PHÁT HUỲNH QUANG (FLUORESCENCE)   Một số vật liệu phát ra ánh sáng khi nó được đặt dưới tia cực tím (UV), đây được gọi là phát huỳnh quang. Ánh sáng mặt trời và đèn huỳnh quang phát ra một số tia cực tím (UV), và nhiều loại đá quý phát huỳnh quang khi đặt dưới điều kiện này.   Phát huỳnh quang làm cho spinel đỏ thêm phần rực rỡ. Nó cũng làm tăng màu đỏ của ruby giàu chromium. Nhưng ruby từ một số nguồn gốc thì giàu sắt, và sắt là chất cản phát huỳnh quang nên những loại ruby này không phát huỳnh quang dưới tia cực tím. Thông thường, ruby phát huỳnh quang thì có giá trị cao hơn những loại không phát huỳnh quang, mặc dù ở một khí cạnh khác thì phát huỳnh quang có thể làm giảm độ chiếu sáng của viên đá.       Phát huỳnh quang màu đỏ có thể làm tăng màu đỏ trong một số loại ruby giàu chromium - Ảnh: Benjamin Zucker/Precious Stone Company, New York   6. HIỆU ỨNG ĐỔI MÀU (COLOR CHANGE)   Một viên đá có những màu sắc khác nhau dưới những loại ánh sáng khác nhau, gọi là hiệu ứng đổi màu. Chromium và vanadium là những chất tạo màu thường gây ra hiệu ứng đổi màu trong đá quý.   Đổi màu xuất hiện trong alexandrite chrysoberyl, sapphire đổi màu và garnet đổi màu bởi vì những loại đá này cho phép truyền qua màu đỏ và lục của phổ gần như bằng nhau. Những loại đá này có những thân màu khác nhau, phụ thuộc vào loại ánh sáng mà chúng tiếp xúc. Ví dụ: alexandrite có màu đỏ dưới ánh sáng sợi quang (loại ánh sáng giàu màu đỏ) và có màu lục dưới ánh sáng huỳnh quang (giàu màu lam và lục).     Ánh sáng sợi quang Ánh sáng huỳnh quang Alexandrite     Spphire     Garnet       Mặc dù màu thì khác nhau dưới mỗi nguồn sáng, những tông (tone) và độ bảo hòa (saturation) thì luôn luôn bằng nhau. Khi đánh giá những viên đá đổi màu, trước tiên nên kiểm tra chúng dưới ánh sáng daylight, sau đó chuyển sang ánh sáng sợi quang. Xem xét mức độ và cường độ của sự đổi màu. Trong alexandrite, nếu màu lục đổi thành màu đỏ một cách rõ rệt thì viên đá có giá trị rất cao. Theo GIA – người dịch: Trần Minh Tân