Xuất bản thông tin

Xuất bản thông tin

Những cảnh báo về tình hình kim cương gửi giám định tại PNJLAB
03/10/2019



Chủ tịch PNJ nhận giải thưởng thành tựu trọn đời ngành kim hoàn châu Á
18/09/2019

Chủ tịch PNJ nhận giải thưởng thành tựu trọn đời ngành kim hoàn châu Á       Bà Cao Thị Ngọc Dung được đánh giá cao trong việc đào tạo thế hệ thợ nữ trang và dẫn dắt PNJ thành thương hiệu mạnh trong khu vực. Tạp chí chuyên ngành trang sức châu Á  Jewellery News Asia - JNA  vừa tổ chức lễ trao giải JNA Awards vào tối 17/9 tại Hong Kong (Trung Quốc). Trong khuôn khổ sự kiện, bà Cao Thị Ngọc Dung - Chủ tịch HĐQT PNJ nhận giải "Thành tựu trọn đời" của ngành kim hoàn châu Á.     Bà Dung phát biểu nhận giải "Thành tựu trọn đời" tại đêm trao giải JNA Awards.   Giải thưởng ghi nhận những đóng góp của Chủ tịch PNJ trong việc vực dậy nghề kim hoàn có nguy cơ bị mai một tại Việt Nam từ những năm 1988, góp phần thay đổi diện mạo của ngành kim hoàn, xây dựng ngành công nghiệp sản xuất trang sức, nỗ lực đưa sản phẩm Việt Nam ra khu vực và thế giới. Ban tổ chức JNA Awards đánh giá cao vai trò của bà Dung trong việc phát triển đội ngũ thợ nữ trang, nghệ nhân kim hoàn. PNJ là nơi đã đào tạo nên lực lượng hơn 1.000 thợ đang công tác tại doanh nghiệp cũng như nhiều thợ nữ trang lành nghề đang công tác tại nhiều công ty trang sức và cơ sở tư nhân khác. Bà Letitia Chow, Chủ tịch giải thưởng JNA kiêm Giám đốc Phát triển kinh doanh Jewellery Group đánh giá, bà Cao Thị Ngọc Dung là một phụ nữ có niềm tin và bản lĩnh mạnh mẽ. Với quyết tâm và đam mê, bà đã đánh dấu ngành kim hoàn Việt Nam trên bản đồ thế giới. "Thấm nhuần một đạo đức ngành nghề sâu sắc và với tấm lòng bao la, bà liên tục cống hiến cho cộng đồng, hỗ trợ sự phát triển của nữ doanh nhân tại Việt Nam", bà Letitia Chow chia sẻ. Dưới sự lãnh đạo của bà Dung với triết lý kinh doanh "đặt lợi ích khách hàng, lợi ích của xã hội vào lợi ích của doạnh nghiệp", PNJ từng bước trở thành một trong những doanh nghiệp phát triển bền vững trong khu vực châu Á. Đơn vị đạt giải nhất báo cáo phát triển bền vững châu Á về sự gắn kết với 17 mục tiêu phát triển bền vững của Liên Hiệp Quốc đặt ra từ năm 2015. Bà Dung còn được CSRWorks châu Á vinh doanh là "Superwomen" vì sự phát triển bền vững, tạp chí Forbes châu Á bình chọn trong top 40 "Phụ nữ có tầm ảnh hưởng nhất châu Á" và nhiều danh hiệu, giải thưởng danh giá, uy tín trong nước và quốc tế. Đồng thời, bà Dung còn là gương mặt tiên phong trong nhiều hoạt động kết nối, gắn kết phát triển cộng đồng doanh nhân Việt Nam, đặc biệt là cộng đồng doanh nhân nữ và những doanh nhân trẻ. PNJ dành nhiều tâm huyết cho các hoạt động xã hội (CSR) với mục tiêu phát triển giáo dục, phát triển con người, cải thiện môi trường sống, kết nối các tổ chức, các doanh nghiệp để cùng tạo lập một xã hội phát triển bền vững.   Chủ tịch PNJ (thứ 3 từ phải sang) chụp hình cùng người đại diện nhận giải của các nước.   Cũng trong khuôn khổ giải thưởng JNA năm nay, Công ty PNJ của bà Dung còn nhận giải thưởng "Nhà bán lẻ số một châu Á", vượt qua nhiều công ty trang sức lớn của các nước như Trung Quốc, Thái Lan... JNA Awards là giải thưởng uy tín vinh danh các doanh nghiệp, cá nhân có những thành tựu tiêu biểu, xuất sắc, phát triển mạnh mẽ, dẫn đầu trong khu vực, cũng như ghi nhận những nỗ lực đóng góp, cống hiến vì sự phát triển của ngành kim hoàn châu Á. Lễ trao giải diễn ra hàng năm trong khuôn khổ triển lãm trang sức lớn nhất thế giới ở Hong Kong. Chương trình thu hút hàng nghìn thương hiệu, công ty trang sức uy tín và nổi tiếng nhất châu Á và các nước khác trên thế giới. Ban giám khảo giải thưởng là những người có uy tín, tầm ảnh hưởng, hoạt động trong lĩnh vực kim hoàn, trang sức, thời trang châu Á cũng như Hội đồng Vàng Thế giới tại châu Á.   Nguồn: Lộc An/ vne xpress.net



Hệ thống phân loại "Type - Diamond" và tầm quan trọng trong ngọc học
16/09/2019

Hệ thống phân loại "Type - Diamond" (Loại kim cương) và tầm quan trọng trong ngọc học       Kim cương tinh khiết chỉ có một nguyên tố là carbon. Những nguyên tử trong kim cương được sắp xếp theo một cấu trúc đặc biệt (mạng tinh thể) không giống với bất kì một loại đá quý nào khác. Tuy nhiên, nguyên tử của những nguyên tố như là nitrogen (N) và boron (B) có thể thay thế một số nguyên tử carbon trong mạng tinh thể kim cương. Những tạp chất khác cũng có thể có mặt trong kim cương nhưng hệ thống phân loại loại kim cương chỉ dựa trên sự hiện diện hoặc vắng mặt của tạp chất nitrogen và boron và cách chúng sắp xếp trong mạng tinh thể (hình 1)   1. Sự phân loại loại kim cương   Hệ thống phân loại loại kim cương được hình thành dựa trên sự hiện diện hoặc vắng mặt của nitrogen – tạp chất phổ biến nhất trong kim cương. Kim cương loại I là loại kim cương có chứa tạp chất N mà có thể đo được bởi phổ hồng ngoại, trong khi đó kim cương loại II thì không có chứa đủ N có thể nhận biết bằng phổ hồng ngoại. Những loại này thường được chia thành những cấp nhỏ hơn dựa trên đặc điểm của tạp chất mà nó có mặt.   Kim cương loại I được chia thành loại Ia và loại Ib. Cả hai phụ nhóm này đều chứa N, nhưng nguyên tử N trong mỗi nhóm thì được sắp xếp khác nhau.   - Trong loại Ib, những nguyên tử N đơn lẻ thay thế nguyên tử carbon trong mạng tinh thể thì cách ly (isolated) với những nguyên tử N khác, nghĩa là chúng không nằm cạnh nhau trong mạng tinh thể. Những tạp chất N loại này thường được gọi trong các văn liệu khoa học bằng những từ như là: isolated N , single substitutional N và C centers .   - Ngược lại, kim cương loại Ia chứa những nguyên tử N nằm sát bên nhau, trong loại này có hai dạng liên kết N có thể nhận biết được bằng phổ hồng ngoại.   + Loại liên kết phổ biến nhất đối với kim cương loại Ia là hai nguyên tử N liên kết với nhau trong mạng tinh thể. Mặc dù hai nguyên tử này chiếm hai vị trí cạnh nhau, nhưng mỗi cặp N thì cách ly với cặp khác trong mạng tinh thể. Những tạp chất N này thường được gọi là A aggregates (hoặc A centers ) và kim cương chứa tạp chất này được gọi là loại IaA .   + Loại liên kết còn lại là bốn nguyên tử N bao quanh một lổ hổng (vacancy – là một vị trí trong mạng tinh thể mà không có chứa bất kì nguyên tử nào) một cách đối xứng. Những tạp chất này được gọi là B aggregates (hoặc B centers ) và được gọi là kim cương loại IaB .   Hình 1: Hệ thống phân loại loại kim cương dựa trên sự hiện diện hoặc vắng mặt của tạp chất nitrogen và boron và những loại liên kết của chúng trong mạng tinh thể kim cương. Biểu đồ này miêu tả cách mà nguyên tử N và B thay thế nguyên tử C trong mạng tinh thể kim cương. Kim cương loại Ia chứa tạp chất N tập hợp gồm A aggregates và B aggregates. Kim cương loại Ib chứa nguyên tử N cách ly. Kim cương loại IIa không chứa tạo chất có thể đo được, và loại IIb chứa tạp chất boron.   Kim cương loại II được chia thành loại IIa và IIb.   - Kim cương loại IIa không có chứa tạp chất N hoặc boron có thể đo được bằng phổ hồng ngoại   - Kim cương loại IIb cũng không chứa tạp chất N, nhưng thay vào đó là chứa tạp chất boron thay thế carbon trong mạng tinh thể. Tính chất đặc trưng của kim cương loại IIb là độ dẫn điện tốt (do tạp chất boron).   Hình 2: Màu chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi tạp chất/tâm màu trong mạng tinh thể kim cương. Do đó, loại kim cương đóng vai trò quan trọng trong khả năng tạo màu của kim cương tự nhiên, tổng hợp hoặc xử lý. Hình trên thể hiện một số màu đặc trưng của mỗi loại. Ảnh: GIA   2. Mối quan hệ giữa loại kim cương và xử lý màu   Kim cương tự nhiên thường có màu liên quan với loại của chúng (hình 2). Ví dụ: kim cương tự nhiên loại Ia thường không màu, nâu, hồng hoặc tím, trong khi đó kim cương loại Ia được xử lý màu thường phổ biến màu vàng, cam, đỏ, xanh dương và lục. Kim cương loại Ib gần như luôn luôn có màu nâu, vàng hoặc cam, trong khi đó kim cương loại Ib được chiếu xạ nhân tạo và ủ nhiệt thường có màu hồng hoặc đỏ. Xử lý HPHT (High Pressure, High Temperature) có thể tạo ra màu vàng từ kim cương loại Ib. Xử lý HPHT có thể cải thiện kim cương loại IIa màu nâu nhạt thành không màu hoặc màu hồng, và có thể tạo ra màu xanh dương từ một số kim cương loại IIb. Tuy nhiên, xử lý HPHT không thể biến đổi kim cương loại Ia thành không màu, vì vậy nếu một nhà ngọc học xác định rằng viên kim cương không màu là loại Ia thì không cần phải gởi tới những phòng thí nghiệm để kiểm tra thêm nữa (một ít kim cương tổng hợp không màu xuất hiện trên thị trường gần đây là loại IIa)   Hầu hết những phương pháp xử lý để tạo ra, thay đổi hoặc loại bỏ màu ở kim cương được thực hiện dựa trên sự tái sắp xếp những khuyết tật (defects) trong mạng tinh thể kim cương. Dựa vào loại kim cương có thể xác định được những tâm màu có thể được tạo ra hoặc bị phá hủy trong quá trình xử lý, từ đó sẽ thu được kết quả mong muốn. Chiếu xạ thường được thực hiện trên tất cả các loại kim cương để tạo ra màu lục hoặc xanh dương, vì vậy trong trường hợp này thì loại kim cương không quan trọng. Tuy nhiên, nếu chiếu xạ và sau đó là quá trình ủ nhiệt với nhiệt độ khoảng 800 – 1000 0 C để tạo ra màu vàng hoặc màu hồng thì loại kim cương của vật liệu ban đầu trước khi xử lý là rất quan trọng. Kim cương loại I sẽ thường thay đổi thành màu vàng đậm, cam, hồng hoặc đỏ khi được chiếu xạ sau đó ủ nhiệt, trong khi đó kim cương loại II hiếm khi cho ra màu đậm do thiếu những tạp chất (chủ yếu là N) cần thiết để tạo ra những tâm màu. Vì vậy, các nhà ngọc học phải lưu ý rằng kim cương loại II thường không trải qua quá trình xử lý chiếu xạ sau đó ủ nhiệt.   Để phát hiện xử lý HPHT cần phải hiểu sâu sắc về loại kim cương. Trong hầu hết trường hợp, xử lý HPHT chỉ làm mất màu kim cương loại IIa (hình 3). Điều kiện HPHT sẽ làm thay đổi màu nâu – những vùng bị biến dạng trong viên đá – trở thành không màu hoặc gần không màu. Đôi khi xử lý HPHT có thể biến đổi kim cương loại II thành màu hồng hoặc xanh dương. Trong khi đó kim cương nâu loại I nếu được xử lý HPHT sẽ thay đổi thành những tông màu khác nhau của màu vàng (do sự hiện của tạp chất N). Gần đây sự kết hợp giữa xử lý HPHT và chiếu xạ với ủ nhiệt áp suất thấp được sử dụng để tạo ra màu hồng, đỏ, cam đậm hơn trong cả kim cương loại Ia và IIa.   Hình 3: Ảnh hưởng của xử lý HPHT phụ thuộc mạnh mẽ vào loại của kim cương trước khi xử lý. Kim cương nâu loại IIa có thể trở thành không màu bởi vì màu nâu liên quan với sự biến dạng dẻo trong mạng tinh thể thì dễ dàng bị biến đổi bởi nhiệt độ và áp suất cao; thường thì không có tâm màu mới được tạo ra trong quá trình này do sự vắng mặt của tạp chất N. Kim cương nâu loại Ia chứa một lượng lớn N tập hợp nên sẽ bẫy những lổ hổng trong quá trình xử lý để tạo ra tâm H3 và phá hủy N tập hợp thành nitrogen cách ly; cả hai quá trình này kết hợp với nhau sẽ tạo ra viên kim cương màu vàng   3. Mối quan hệ giữa loại kim cương và kim cương tổng hợp   Trong những năm gần đây, sản lượng kim cương tổng hợp HPHT tăng lên đáng kể và kim cương tổng hợp CVD (chemical vapor deposite) bắt đầu đi vào thị trường đá quý. Vì vậy, các nhà ngọc học phải chịu một áp lực rất lớn để phát hiện những loại kim cương tổng hợp trong phòng thí nghiệm này. Loại kim cương có thể cung cấp một ít dấu hiệu về kim cương tổng hợp. Kim cương tổng hợp HPHT gần như tất cả đều là loại Ib, loại này hiếm khi nào gặp trong kim cương tự nhiên. Kim cương tự nhiên loại Ib thường chứa nhiều bao thể khoáng vật và có sức căng (strain patterns) nhiều màu sắc (quan sát dưới 2 nicol vuông góc). Ngược lại, kim cương tổng hợp HPHT loại Ib chỉ chứa bao thể  flux và chúng có sức căng rất yếu hoặc không có. Kim cương tổng hợp CVD hầu hết là loại IIa và đặc trưng là không màu hoặc màu nâu nhạt. Loại kim cương tổng hợp này có thể phân biệt với kim cương tự nhiên và kim cương được xử lý màu bằng sự vắng mặt của hiệu ứng sức căng dạng “tatami” (dạng sọc cắt nhau). Đôi khi cả phương pháp tổng hợp HPHT và CVD đều tạo ra kim cương tổng hợp loại IIb màu xanh dương. Sự vắng mặt của sức căng dạng “tatami”, kết hợp với sự hiện diện của độ dẫn điện có thể nhận dạng được kim cương tổng hợp loại này.   Hầu hết kim cương tổng hợp loại Ib xuất hiện trên thị trường gần đây đều có màu vàng đậm tới cam. Bởi vì chúng được tăng trưởng trong môi trường giống với môi trường  xử lý màu ở kim cương tự nhiên loại Ib, do đó màu của kim cương xử lý màu và kim cương tổng hợp rất giống nhau. Những năm gần đây, với sự phát triển của công nghệ tổng hợp kim cương CVD làm cho kim cương không màu loại IIa có thể nhầm lẫn với kim cương tổng hợp CVD.   Dịch: Trần Minh Tân Nguồn: Gem & Gemology , Vol. 45, No. 2, pp. 96-111.  



Phụ lục các loại xử lý trong đá quý khó phát hiện
28/03/2018

Phụ lục các loại xử lý trong đá quý khó phát hiện     Có rất nhiều các phương pháp xử lý trong đá quý nhằm cải thiện độ thẩm mỹ của viên đá, trong đó một số phương pháp xử lý rất khó nhận biết vì những lý do sau:            Xử lý nhiệt: là chuỗi dài từ nhiệt độ thấp đến nhiệt độ cao, nhằm cải thiện hoặc thay đổi màu sắc (ví dụ: từ amethyst qua citine) và độ trong của viên đá. Tuy nhiên trong quá trình hình thành tự nhiên, một số loại đá vẫn chịu tác động nhiệt tự nhiên dưới sâu trong lòng đất và để lại những đặc điểm bên trong lẫn bên ngoài giống như đá đã qua xử lý. Do đó, để phân biệt tác dụng nhiệt trong tự nhiên hay do con người can thiệp đối với những loại đá này là điều rất khó.            Xử lý chiếu xạ : tương tự như xử lý nhiệt, phương pháp chiếu xạ cũng được sử dụng ở một số loại đá quý nhằm cải thiện màu sắc của chúng. Tuy nhiên trong quá trình hình thành đá, một số loại cũng bị nhiễm chiếu xạ tự nhiên trong một khoảng thời gian dài tùy thuộc vào môi trường địa chất khác nhau theo khu vực địa lý. Để xác định được chiếu xạ tự nhiên này và chiếu xạ xử lý bởi con người là một việc không dễ dàng.   Hơn nữa, có nhiều loại đá mặc dù đã trãi qua quá trình xử lý nhiệt hoặc chiếu xạ nhưng không để lại dấu vết của quá trình xử lý khi kiểm tra dưới các thiết bị ngọc học. Cho đến thời điểm hiện tại, trên thế giới nói chung và phòng kiểm định đá quý PNJL nói riêng đều chưa thể phân định được chính xác 2 loại xử lý trên ở một số loại đá. Do đó công ty TNHH MTV Giám Định PNJ (PNJL) sẽ không ghi nhận 2 loại xử lý này trên giấy giám định ở các loại đá theo bảng dưới đây:  



Kim cương thiên nhiên loại IIa phát lân quang mạnh và có tâm màu liên quan với Nickel
02/03/2018

Kim cương thiên nhiên loại IIa phát lân quang mạnh và có tâm màu liên quan với Nickel     Tháng 1 - 2018 Hình 1: Ảnh phát quang của hai viên kim cương 0.18 và 0.30 ct dưới DiamondView. Bên trái: Phát huỳnh quang màu xanh dương phớt xám và phát lân quang mạnh màu xanh dương. Bên phải: phát huỳnh quang màu đỏ tươi và phát lân quang mạnh màu xanh dương, và cấu trúc mạng lưới trên mặt table. Ảnh: Shi Tang.   Phát lân quang (phosphorescence) mạnh sau khi được kích thích bằng tia cực tím (UV) thì rất hiếm gặp trong kim cương thiện nhiên và hiện tượng này thường chỉ xuất hiện trong kim cương chameleon loại IaA/Ib hoặc loại Ia giàu hydrogen và kim cương loại IIb (T. Hainschwang et al.,  “A gemological study of a collection of chameleon diamonds,” Spring 2005  G&G , pp. 20–35; S. Eaton-Magaña and R. Lu, “Phosphorescence in type IIb diamonds,”  Diamond and Related Materials , Vol. 20, No. 7, 2011, pp. 983–989). Khi hiện tượng này xuất hiện trong những loại kim cương khác nó thường có cường độ nhẹ và thời gian phát quang rất ngắn. Gần đây, National Gemstone Testing Center (NGTC) tại Bắc Kinh phát hiện hai viên kim cương thiên nhiên phát lân quang mạnh, màu xanh dương bất thường và màu phát huỳnh quang cũng thuộc loại hiếm gặp dưới DiamondView.   Hai viên kim cương này có trọng lượng lần lượt là 0.18 và 0.30 carat, cả hai đều có cấp độ màu E. Phổ hồng ngoại xác nhận hai viên kim cương này thuộc loại IIa do không có bất kì sự hấp thu nào của tạp chất nitrogen trong vùng bước sóng từ 1100 đến 1400 cm -1 và của tạp chất liên quan đến boron. Kiểm tra dưới kính hiển vi và đèn cực tím tiêu chuẩn (bước sóng 254 và 365 nm) không phát hiện bất kì dấu hiệu bất thường nào. Thay vì phát huỳnh quang màu xanh dương đậm và không phát lân quang dưới DiamondView như những viên kim cương loại IIa bình thường thì viên 0.18 ct lại phát huỳnh quang màu xanh dương phát xám (grayish blue) và phát lân quang mạnh màu xanh dương, đặc điểm này tương tự như kim cương tổng hợp HPHT không màu. Còn viên 0.30 ct phát huỳnh quang màu đỏ tươi và phát lân quang mạnh màu xanh dương, đây là đặc điểm bất thường đối với kim cương thiên nhiên không màu và gần không màu (hình 1). Phát huỳnh quang màu đỏ rất hiếm khi gặp trong kim cương thiên nhiên loại IIa và ít khi được đề cập trong các văn liệu. ( Summer 2016 Lab Notes, pp. 189–190 )   Phổ Photoluminescence (PL) tiến hành tại nhiệt độ nitrogen lỏng với nguồn laser kích thích 532 nm phát hiện một số đặc điểm đáng lưu ý. Ngoài tâm GR1 tại 741nm đặc trưng của kim cương thiên nhiên loại IIa, đỉnh kép tại 883.0/884.7 nm liên quan với tạp chất nickel xuất hiện trong cả hai mẫu (hình 2). Đỉnh kép này – còn được gọi là “tâm 1.40eV’ – thường thấy trong mặt tăng trưởng {111} của kim cương tổng hợp HPHT. Tâm màu liên quan với nikcel thì phổ biến trong kim cương thiên nhiên vàng phớt lục và chameleon (W. Wang et al., “ Natural type Ia diamond with green-yellow color due to Ni-related defects ,” Fall 2007  G&G , pp. 240–243;  Summer 2014 Lab Notes, pp. 151–152 )  nhưng rất hiếm khi xuất hiện trong kim cương thiên nhiên không màu và gần không màu. Đối với kim cương thiên nhiên mà phát lân quang mạnh như trên và có tâm màu liên quan với nickel thì thật sự bất thường.   Hình 2: Phổ PL của hai mẫu với nguồn laser kích thích 532 nm. Cả hai mẫu đều có đỉnh kép liên quan với nickel tại 883.0/884.7 nm và tâm NV tại 575 và 637 nm với cường độ mạnh, ngoài ra còn tâm GR1 tại 741 nm.   Phổ PL của mẫu 0.30 ct thể hiện cường độ của tâm NV tại 575 nm rất mạnh, đây chính là nguyên nhân tạo ra phát huỳnh quang màu đỏ dưới DiamondView. Phổ PL của cả hai mẫu đều thê hiện cường độ của tâm NV 0  tại 575 nm mạnh hơn rất nhiều so với tâm NV –   tại 637 nm, đặc điểm này là một trong những dấu hiệu chính minh nguồn gốc thiên nhiên của hai mẫu kim cương này.   Hình 3: Phổ PL của mẫu 0.30 với nguồn laser kích thích 532 nm ở mức năng lượng cao hơn. Tâm NV có cường độ rất mạnh, hai đỉnh tại 648 và 776 nm được thấy rõ ràng hơn.   Ngoài ra khi kiểm tra mẫu 0.30 ct với nguồn laser kích thích 532 nm ở mức năng lượng, phổ PL còn phát hiện thêm đỉnh kép tại 648/649 nm và một đỉnh tại 776 nm (hình 3). Theo như những nghiên cứu trước đây thì đỉnh của phổ PL tại 648.2 và 776.4 nm liên quan với tạp chất boron trong kim cương thiên nhiên loại IIb có phát lân quang (Eaton-Magaña and Lu, 2011). Tuy nhiên những nghiên cứu sau này thì cho rằng đỉnh 648.2 nm thì liên quan với tổ hợp boron-interstitial, trong khi đó đỉnh 776.4 nm thì liên quan với tổ hợp boron-vacancy (S. Eaton-Magaña and T. Ardon, “Temperature effects on luminescence centers in natural type IIb diamonds,”  Diamond and Related Materials , Vol. 69, 2016, pp. 86–95). Hai tâm này có thể giải thích một phần cho hiện tượng phát lân quang mạnh trong mẫu 0.30 ct. Trong khi đó mẫu 0.18 ct không xuất hiện hai tâm boron-interstitial và boron-vacancy, do đó hiện tượng phát lân quang mạnh có thể không phụ thuộc hoàn toàn vào hai tâm này. Mặc dù màu phát huỳnh quang và phát lân quang dưới DiamondView và xuất hiện tạp chất liên quan với nickel trong phổ PL tương tự như kim cương tổng hợp HPHT, nhưng khi tổ hợp các kết quả phân tích dưới phổ hồng ngoại FTIR, phổ UV-Vis, phổ PL và quan sát dưới hai nicol vuông góc xác nhận rằng hai mẫu này là kim cương thiên nhiên. Hai mẫu này cho thấy sự đa dạng của màu phát quang và đặc điểm phổ PL, ngoài ra cũng góp phần vào sự hiểu biết toàn diện hơn về nguồn gốc của kim cương thiên nhiên.   Dịch: Trần Minh Tân              Tác giả: Shi Tang, Zhonghua Song, Taijin Lu, Jun Su, and Yongwang Ma Nguồn: GEMS & GEMOLOGY, WINTER 2017, VOL. 53, NO. 4                                                                                                     Trong tháng 1-2018, PNJLab cũng gặp một số mẫu phát lân quang mạnh dưới DiamondView tương tự như hai mẫu trên, trong đó có hai mẫu (0.60 và 0.33 ct, màu D) phát huỳnh quang và phát lân quang tương tự như mẫu 0.18 ct của bài báo trên, nhưng khi phân tích kĩ ảnh phát huỳnh quang thì không phát hiện cấu trúc tăng trưởng cubo-octeheral như thường thấy trong kim cương tổng hợp HPHT. Mẫu còn lại (0.36 ct, màu F) phát lân quang giống mẫu 0.30 ct nhưng màu phát huỳnh quang thì hơi khác, màu tía phớt đỏ (reddish purple) và xanh dương thay vì màu đỏ tươi. Phân tích phổ hồng ngoại FTIR xác nhận cả ba mẫu này đều là kim cương loại IIa. Khi quan sát dưới hai nicol vuông góc cả ba mẫu đều thể hiện sự biến dạng màu giao thoa với cấu trúc “tatami” rõ ràng, đặc trưng của kim cương thiên nhiên loại IIa. Qua những trường hợp trên có thể thấy tầm quan trọng của việc tổ hợp kết quả của nhiều phương pháp trong việc giám định kim cương, phân biệt kim cương thiên nhiên và kim cương tổng hợp chỉ với một phương pháp đơn lẻ không còn độ tin cậy nữa trong bối cảnh hiện tại.   Hình 4: Ảnh phát quang dưới DiamondView của mẫu 0.60 ct và 0.35 ct được chụp lại trong quá trình giám định tại PNJLab. Ảnh: Tran Minh Tan/PNJLab



Ngọc trai nuôi nước ngọt nhuộm màu để giả ngọc trai South Sea
30/11/2017

Ngọc trai nuôi nước ngọt nhuộm màu để giả ngọc trai South Sea     Hình 1: Màu sắc tập chung không đều trên bề mặt của chuỗi ngọc trai nuôi cấy nước ngọt nhuộm màu từ Grace Pearls. Hình chụp bởi Lore Kiefert.   Trong tạp chí mùa xuân 2017, viện ngọc học Gubelin đã nhận kiểm định một chuỗi ngọc trai. Kích thước và màu sắc của mẫu này đều cho thấy đây là ngọc trai South Sea, cùng với giá trị cao của chúng cũng đã xác thực cho điều này, tuy nhiên trên bề mặt lớp ngọc để lại một số những đốm màu không đều, điều này gợi ý vật liệu này đã bị nhuộm màu.   Vài tháng trước đó, tác giả LK đã tới Hồng Kong, văn phòng của Grace Pearl, nơi có rất đông công nhân trên nông trại nuôi ngọc trai và nhà máy ở Trung Quốc, để tìm được lô ngọc trai nước ngọt cuối cùng trong chu trình sản xuất. Grace Pearls phát triển một phương pháp độc quyền nuôi cấy số lượng lớn ngọc trai nước ngọt và bán với tên gọi ngọc trai Edison. Chúng bao gồm có tất cả màu sắc của ngọc trai nước ngọt truyền thống, điển hình như màu trắng, cam, hồng và màu tía. Để bổ sung cho dãy màu sắc này, họ còn nhuộm vàng hoặc đen cho các loại ngọc trai từ 12 đến 18 mm.   Các sản phẩm chúng tôi nhìn thấy ở Grace Pearl có một dải phân chia rộng về chất lượng và giá trị. Giá thấp nhất của một chuỗi ngọc trai Edison sấp xỉ 100$, trong khi loại ngọc trai nhuộm vàng chất lượng cao nhất có thể đạt đến mức 2.000$. Giá cao nhất của chuỗi ngọc trai màu trắng và màu hồng tự nhiên có thể lên tới mức 40.000$ trên một chuỗi sợi.   Viện ngọc học Gubelin đã thu được một chuỗi ngọc trai nước ngọt nhuộm vàng từ Grace Pearl để bổ sung cho bộ siêu tập lớn của mình. Viên ngọc trai lớn nhất trong số đó có kích thước gần 17 mm. Nhằm sử dụng cho mục đích nghiên cứu, chúng tôi cố ý chọn những chuỗi ngọc có chất lượng thấp, nhiều khuyết điểm trên bề mặt để có thể thấy được sự không đồng đều về màu sắc và hiện tượng tập chung của các điểm màu. (hình 1).   Đối với quy trình cấy ghép ở viện Grace Pearl, tính đến thời điện tiện tại nó là phương pháp độc quyền. Cũng giống như ngọc trai Kasumigaura của Nhật Bản hay ngọc trai Ming của Trung Quốc, nơi mà hạt được khoan trước và cấy mô vào sau đó, hoặc được tiến hành song song nhau trong quy trình cấy ghép. Ảnh chụp tia X rõ cho thấy lỗ khoan bên trong hạt của một vài viên ngọc trai nuôi cấy, chủ yếu là những hạt nhỏ hơn (hình 2), trong khi những hạt lớn hơn giống hạt đầu tiên ở hình 1, nó chỉ có duy nhất 1 lỗ khoan. Điều này có thể là vì sự cấy bổ sung vào bên trong viên ngọc trai vì việc cấy lần đầu đã thất bại. Quỳnh quang tia X (EDXRF) đã phân tích cho ra 2 giá trị nguyên tố Mn và Sr phù hợp với ngọc trai nuôi nước ngọt.   Hình 2: Hình tia X cho thấy ngọc trai nuôi nước ngọt bị nhuộm vàng. Các hạt nhân sấp sĩ khoảng 10-15 mm đường kính. Trong khi độ dày lớp  ngọc chỉ từ 0.2 – 5 mm. Một vài hạt nhân còn thấy cấu trúc khoan lỗ. Hình chụp bởi Pierre Hardy.   Tổng hợp các kiểm tra bên trên, chuỗi ngọc trai được khách hàng đưa tới xác định được những đặc điểm như sau: Có sự tập trung màu vàng đậm ở xung quanh những lỗ khoan và lỗ hổng. Màu vàng trên bề mặt không đều. Hình tia X cho thấy lỗ khoan bên trong xuyên qua hạt nhân của một vài viên ngọc trai (hình số 3 bên tay phải) và đặc điểm hóa học của ngọc trai nước ngọt (hình 4). Sự chứng minh này rất quan trọng để thông báo về một sự phát triển mới trong lĩnh vực ngọc trai.   Hình 3: Bên trái: Quan sát thấy sự tập chung màu sắc trong những lỗ hổng trên bề mặt của ngọc trai nuôi nuôi cấy nước ngọt nhuộm của khách hàng mang tới. Hình chụp bởi Lore Kiefert. Bên phải: hình chụp tia X của 2 viên ngọc trai trên chuỗi của khách cho thấy: các hạt nhân bên trong rõ. Hạt ngọc trai bên trái cho thấy cấu trúc của lỗ khoan thêm vào trong hạt nhân. Hình chụp bởi Pierre Hardy.   Hình 4: Sơ đồ thể hiện tương quan về phân bố nguyên MnO và SrO của ngọc trai nước ngọt và ngọc trai nước mặn. Những chấm nhỏ màu đỏ thể hiện giá trị của chuỗi ngọc trai được thu thập, những chấm màu vàng là giá trị của chuỗi ngọc trai mà khách gửi.   Sơ đồ phân bố nguyên tố của ngọc trai nước ngọt và nước mặn được phân chia theo quy luật phân bố của MnO và SrO. Những chấm màu đỏ thể hiện cho mẫu thu thập nghiên cứu của tác giả. Những chấm màu vàng  thể hiện của chuỗi ngọc trai khách gửi phân tích. Tất cả các điểm đều thuộc ngọc trai nước ngọt.   Dịch : Hảo Vũ (PNJ Lab) Tác giả: Lore Kiefert (trưởng phòng) và Pierre Hardy (chuyên viên kiểm định) tại viện ngọc học Gubelin ở Lucerne, Switzerland.



Bao thể huyền bí trong Topaz
15/06/2017

Bao thể huyền bí trong Topaz     Đôi khi, chúng ta tình cờ bắt gặp một vấn đề nhất định nào đó của bao thể mà ta không thể giải quyết được. Cũng như trong trường hợp của viên Topaz từ vùng Elahera, Sri Lanka nặng 5.10 carat như đã thấy ở hình trái là một minh chứng. Đây là tinh thể Topaz không màu, trong suốt, được mua ở Kusum S. Naotune (Colombo, Sri Lanka), bên trong nó nổi bật là bao thể trong suốt màu lục nhạt và một hình hoa được kết cụm lại bởi những bao thể tấm dẹp màu đen đục ánh bạc (hình phải). Màu sắc và các đặc điểm của bao thể màu xanh lục này gợi ý đây có thể là khoáng vật fluorite, điều này đã được xác thực dưới vi phổ laser Raman. ( laser Raman micro-spetrometry).   Viên Topaz trong suốt, nặng 5.10 carat ở vùng Sri Lankan có cảnh tượng bao thể bên trong rất nghệ thuật (hình trái). Trong khi các tinh thể bao thể màu xanh lục nhạt được xác định là Fluorit khi phân tích dưới phổ Raman, thì các bao thể dạng tấp dẹp, đen đục rất khó để xác định. Hình chụp bởi Nathan Renfo, thị trường kính 5.87 mm.(hình phải)   P hân tích những bao thể dẹp này là một vấn đề khó hơn nhiều. Các nhân viên ở phòng giám định ngọc học GIA Carlsbad đã dùng phổ Raman để xác định, tuy nhiên các bao thể này ở khá sâu, không thể bắt được bất kỳ tín hiệu nào ngoại trừ đường quang phổ của chính viên Topaz. Phổ huỳnh quang tia X tán xạ năng lượng EDXRF cũng đã cố gắng tìm ra tín hiệu của thành phần các nguyên tố hóa học trong nó, nhưng vẫn không có một thông tin hữu ích nào được tìm thấy.   Rõ ràng là các phân tích phá hủy mẫu là cần thiết để có thể xác định chính xác được chúng. Tuy nhiên đây là lần đầu tiên thấy sự kết hợp độc đáo của các bao thể, vì vậy chúng tôi quyết định giữ nguyên, không phá hủy mẫu để sử dụng cho các nghiên cứu, thăm dò khác trong tương lai. Chắc chắn có một ngày khi công nghệ phát triển hơn sẽ cho phép xác định được những bao thể bí ẩn này. Còn hiện tại được ngắm nhìn kiệt tác bao thể của chúng cũng đã đủ rồi.   Dịch giả: Hảo Vũ Tác giả: John I. Koivula - GIA Carlsbad, California.



Bao thể lạ trong Moldavite
08/04/2017

Bao thể lạ trong Moldavite     Hình 1: Viên đá màu xanh lục, bán trong suốt được đưa tới kiểm định tại phòng đá màu, công ty PNJL   Gần đây phòng kiểm định đá màu công ty TNHH MTV Giám Định PNJ(PNJL) nhận được một mẫu giám định có màu xanh lục, bán trong suốt. Mới nhìnviên đá giống Chalcedony (Hình 1). Tuy nhiên sau khi khảo sát các đặc điểm ngọc học của đá thì thấy các đặc điểm sau:   - Tỷ trọng: 2.52.   - Chiết suất điểm đo được là: 1.53.   - Cấu tạo vi tinh. Đẳng hướng dưới phân cực kế.   Tất các các đặc điểm ngọc học nêu trên đều xác định đây là Moldavite.   Hình 2: Bao thể lạ hình lăng trụ dài rất tự hình trong viên đá.   Đặc biệt, khi quan sát dưới kính hiển vi phân cực thấy có các bao thể rất tự hình dạng kéo dài. Các bao thể này mới nhìn có các đặc điểm giống Pyroxen, chúng có thể là Tremolite hoặc Actinolite. Tuy nhiên đây cũng có thể là bao thể Wollastonite. Quan sát dưới phân cực kế các bao thể này có đặc điểm lưỡng sắc, dị hướng và có màu giao thoa cao.   Các bao thể đặc trưng của thủy tinh gồm các bọt khí, vết gợn song hoặc các bao thể hình kim…Đây là lần đầu tiên ta thấy một loại bao thể mới của chúng và cũng là một điều mới thú vị trong lĩnh vực ngọc học.   Tác giả: Hảo Vũ



Bao thể màu tía hiếm gặp trong Emerald
28/02/2017

Bao thể màu tía hiếm gặp trong Emerald       Hình 1: Viên emerald này chứa một bao thể màu tía lớn nằm ngay dưới mặt bàn của viên đá. Hình được chụp bởi C.D Mengason.   Tùy vào vị trí địa lý, các bao thể đặc trưng trong emerald ở cùng hoặc gần khu vực với nhau thì thường giống nhau. Chúng tôi mong được nhìn thấy các bao thể 3 pha điển hình ở emerald vùng Colombia hay các bao thể dạng khối đa giác và phlogopite ở emerald vùng Zambia, vì vậy khi quan sát thấy một thứ gì đó bất thường, luôn là điều thú vị đối với các nhà ngọc học. Phòng thí nghiệm Carlsbad gần đây đã kiểm tra một viên emerald mài giác, hình ovan nặng 7.11 carat (hình 1) và tiến hành kiểm tra các tiêu chuẩn ngọc học của nó. Khi kiểm tra dưới kính hiển vi ngọc học, phát hiện ra các bao thể đa pha từ dạng răng cưa đến bất thường, các lớp màng mỏng phản chiếu, các khe nứt được tăng cường độ trong và đáng ngạc nhiên là có một bao thể màu tím nữa tự hình khá lớn. Sau khi kiểm tra kỹ hơn, có thể nhìn thấy các dải màu riêng biệt màu tím và không màu nằm xen kẽ nhau (hình 2). Bao thể này được chứng minh là đơn chiết suất (khúc xạ) khi quan sát dưới phân cực kế. Các bao thể nằm rất sâu ở bên trong đá, để xác nhận được nó cần kiểm tra bằng phổ Raman, tuy nhiên các đặc điểm bề ngoài của nó cho thấy đây là fluorite.   Hình 2: Với việc kiểm tra dưới kính hiển vi ngọc học, các dải màu tía rõ hiện diện bên trong bao thể fluorite. Hình được chụp bởi Jonathan Muyal, thị trường chụp 2.34mm.   Bao thể fluorite trong emerald được tìm thấy  ở nhiều vùng khác nhau, đây là sản phẩm của nguồn gốc nhiệt dịch hoặc pegmatite. Những bao thể này thường xuyên được mô tả là bát giác không màu, đoi lúc là dạng hình khối hoặc hình tròn. Fluorite có các dải màu tía này là một loại bao thể hiếm gặp ở emerald. Đây được coi là sự bổ sung bất ngờ và thú vị của một loại bao thể điển hình khác được nhìn thấy trong emerald.   Tác giả: Claire Ito Dịch giả: Hảo Vũ



Xử lý trám dầu hiếm gặp ở Ruby
27/02/2017

Xử lý trám dầu hiếm gặp ở Ruby   Hình 1: Viên đá màu đỏ nặng 12.12 carat có các đặc điểm tiêu biểu của viên Ruby tự nhiên. Hình được chụp bởi A. Droux/LFG. Một viên đá màu đỏ, mài giác, hình chữ nhật nặng 12.12 carat (hình 1) đực đưa tới trung tâm kiểm định đá quý Pháp (LFG) để phân tích. Các chỉ số về chiết suất, tỷ trọng và phổ Raman đều xác định đây là Ruby. Nó phát huỳnh quang màu đỏ từ trung bình đến mạnh dưới bức sóng dài và yếu hơn ở bức sóng UV ngắn. Dưới độ phóng đại lớn, quan sát thấy sự tập chung khá dày đặc của các bao thể hình kim dài, một vài trong số đó có dạng dẹp và hầu hết chúng đều có hiệu ứng lấp lánh (hình 2). Nhiều song tinh lamellae cắt ngang qua viên đá (hình 3). Hoàn toàn không có dấu hiệu của cải thiện nhiệt. Tất cả các bao thể và thành phần hóa học đều phù với với Ruby có nguồn gốc từ Myamar. Hình 2: Các bao thể hình kim hiệu ứng lấp lánh tập chung dày đặc bên trong mẫu. Hình chụp dưới kính bởi A. Doroux/LFG, độ phóng đại 50X. Hình 3:Song tinh Lamellae tương phản ở loại Ruby này tương đồng với những viên thường thấy có nguồn gốc từ Myamar. Ảnh chụp lát mỏng bở A. Droux/LFG, độ phóng đại 60X. Bên trong mẫu có nhều khe nứt nhỏ hơn và đi theo luật song tinh lamellae. Kiểm tra bề mặt của các vết nứt thấy cóp sự hiện diện của một số vật liệu khác bên trong chúng và một số nơi còn để lại dấu vết màu trắng ở gần bề mặt viên đá. Đi sâu vào bên trong các khe nứt có các bọt khí dẹp và hệ thống mạng lưới các khe nứt này giống như lớp bùn khô dạng cành cây. Hình dạng này giống với dạng khô của dầu ở emerald. Dưới nhiệt độ của đèn sợ quang sử dụng để quan sát, một vài giọt bao thể được hình thành bên trong khe nứt chỉ ra rằng viên đá đã bị một dung dịch lỏng hoặc có các điểm nóng chảy khác tác dụng. Điều này gợi ý rằng viên đá có thể đã được trám đầy bởi một loại dầu hoặc sáp khác. Đặc điểm chiều dài bức sóng UV của DiamondView chỉ ra đã có sự tẩm vật liệu khác bên trong khe nứt của đá (hình 4). Sự hấp thu các tia hồng ngoại chứng minh sự có mặt của vật liệu hữu cơ bên trong khe nứt của đá (hình 5). Dầu thể hiện ở các đỉnh phổ 2852, 2925 và 2955 cm-1 những vị trí này gần giống với những đỉnh phổ quan sát được ở emerald tẩm dầu. Các đỉnh phổ của các đặc điểm khác lại khoảng 3600 đến 3700 cm-1 và đây được cho là chỉ thị của nhóm khoáng vật Kaolinite.  Hình 4: Hình ảnh chụp ở DiamondView của viên Ruby cho thấy có sự trám (tẩm) đầy các vật liệu khác bên trong khe nứt. Ảnh chụp bởi A. Droux/LFG. Hình 5: Phổ hồng ngọa của viên Ruby này cho thấy giống với các đặc điểm của viên Emeral tẩm dầu. Dựa vào việc quan sát dưới kính hiển vi và phổ hồng ngoại, chúng ta có thể kết luận rằng viên Ruby này đã được cải thiện độ trong bằng dầu. Trên thị trường đá quý, xử lý thủy tinh chì được sử dụng phổ biến hơn nhiều so với xử lý tẩm dầu ở loại Ruby. Xử lý này thướng hiếm gặp, tuy nhiên cần được kiểm tra kỹ để nhận diện. Tác giả: AlexandreDroux (a.droux@bjop.fr) là một nhà ngọc học ở Trung tâm ngọc học Pháp (LFG) ở Paris. Emmanuel Fritsch là giáo sư chuyên ngành Vật lý học ở Instinude Jeam Rouxel, Đại học Nantes nước Pháp. Tácgiả: AlexandreDrouxvà Emmanuel Fritsch Dịch giả: Hảo Vũ